Hai bà mẹ -CCB Nguyễn Thế Vũ-Tác giả chụp với vợ, chồng anh CCB Vũ Đình Đảng (Tháng/2/2013)
Có
những cuộc gặp gỡ trong cuộc đời tưởng như đã đi qua cùng năm tháng, nhưng rồi
một ngày, trong một hoàn cảnh rất đỗi bình thường, ký ức bỗng trở về nguyên
vẹn. Những người từng cùng nhau đi qua chiến tranh, từng chia nhau từng bữa
cơm, từng giờ phút gian khổ, từng đối diện với hiểm nguy nơi chiến trường… dù
xa cách bao nhiêu năm, khi gặp lại vẫn có thể nhận ra nhau như chưa từng có một
khoảng thời gian dài đằng đẵng ở giữa.
Đối với người lính, tình đồng đội có
lẽ là một trong những thứ tình cảm đặc biệt nhất. Nó được hình thành trong
những năm tháng gian lao, được thử thách giữa bom đạn và những cuộc hành quân,
rồi theo mỗi người đi suốt cả cuộc đời. Chiến tranh có thể lùi xa, những đơn vị
cũ có thể thay đổi, người lính năm xưa có thể trở về với cuộc sống đời thường,
nhưng ký ức về những người đã từng sát cánh bên mình thì khó có thể phai mờ.
Tôi cũng có một người đồng đội như
thế.
Đó là anh Vũ Đình Đảng – người
Tiểu đội trưởng của tôi năm xưa.
Ngày tôi ra Bắc, nhằm ngày 2/4/1976,
anh Đảng đang đi công tác đột xuất cùng Tư lệnh Sư đoàn ở Rạch Giá. Khi ấy, anh
là Tiểu đội trưởng Tiểu đội trinh sát, thuộc Trung đội 3 – Đại đội 2 – Tiểu
đoàn 23-11, trực thuộc Sư đoàn 4 Hậu Giang, Quân khu 9. (Tiểu đoàn 23-11
nay hợp thành Lữ đoàn 6-QK9)
Anh đi Rạch Giá để cùng đơn vị chuẩn
bị kế hoạch bắn biển, bởi lúc đó có thông tin Pôn Pốt sử dụng tàu thuyền xâm
phạm lãnh hải nước ta.
Miền Nam đã hòa bình, đất nước vừa
thống nhất, tưởng như chiến tranh đã thực sự khép lại. Nhưng đối với những
người lính chúng tôi lúc ấy, tiếng súng vẫn chưa hoàn toàn im tiếng. Ở vùng biên
giới phía Tây Nam của Tổ quốc, tình hình ngày càng căng thẳng. Một cuộc chiến
mới đang dần hiện ra.
Những
ngày biên giới Tây Nam nóng bỏng
Cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam
do Khmer Đỏ, đứng đầu là Pôn Pốt – Iêng Xari, chính thức phát động, với sự hậu
thuẫn của thế lực bên ngoài, đã nổ ra.
Những hành động khiêu khích ban đầu
diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
Ngày 5/5/1975, Khmer Đỏ đưa
quân lên chiếm đảo Thổ Chu. Sau khi chiếm đảo, chúng bắt đi gần 600 người dân
và sát hại một số dân thường. Đồng thời, chúng chiếm đảo Poulowai và dùng tàu
thuyền thăm dò khu vực phía Bắc đảo Phú Quốc, Nam Du.
Ngày 7/5/1975, lực lượng ta
tại đảo Phú Quốc đã buộc địch phải rút khỏi phía Bắc đảo.
Ngày 25/5/1975, Quân khu 9 sử
dụng hai tiểu đoàn của Trung đoàn 195 cùng một phần lực lượng được Bộ Quốc
phòng tăng cường, gồm Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 101, không quân và hải quân,
tiến công giải phóng đảo Thổ Chu.
Sau nhiều ngày bao vây, đến ngày 30/5,
các tàu chiến của ta đổ bộ lên Thổ Chu, tiến công tiêu diệt một tiểu đoàn địch,
diệt khoảng 200 tên, bắt sống 315 tên. Quân ta giành lại quyền kiểm soát và làm
chủ hòn đảo.
Sau đó, Quân khu 9 có ý định tiếp
tục thu hồi quần đảo Cô Tang. Bộ Quốc phòng đồng thời triển khai lực lượng bảo
vệ toàn bộ tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia.
Trong hoàn cảnh ấy, những người lính
vừa bước ra khỏi cuộc chiến chống Mỹ lại một lần nữa phải chuẩn bị cho một cuộc
chiến đấu mới.
Người
Tiểu đội trưởng năm xưa
Nhận lệnh của Đại đội trưởng C2 Nguyễn
Hạnh Phúc, Tiểu đội trinh sát do anh Vũ Đình Đảng làm tổ trưởng cùng một số
anh em được giao nhiệm vụ đi điều nghiên bắn biển tại khu vực bờ biển Rạch Giá
và Kiên Giang.
Thời gian ấy, Khmer Đỏ liên tục cho
tàu thuyền xâm nhập vào vùng biển phía cực Nam của Tổ quốc để quấy phá. Vì vậy,
nhiệm vụ của những người lính trinh sát không chỉ là công việc chuyên môn đơn
thuần, mà còn gắn trực tiếp với yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ chủ quyền
biển đảo của đất nước.
Còn tại căn cứ “Thiết giáp Chi
Lăng”, thuộc vùng Bảy Núi, huyện biên giới Tịnh Biên, tỉnh An Giang, đơn vị
vừa huấn luyện, vừa duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao.
Nhiều năm sau, khi gặp lại, anh Đảng
kể cho tôi nghe về những ngày tháng ấy:
Sau khi tôi ra quân, đơn vị tiếp tục
đón thêm lớp quân mới, chủ yếu là anh em miền Nam. Bộ đội vừa huấn luyện vừa sẵn
sàng chiến đấu.
Lúc này, đơn vị đã được trang bị
tương đối chính quy và hiện đại. Đó là một tiểu đoàn pháo binh với nhiều khẩu
pháo 105 ly, thêm cả pháo 155 ly, được xe GMC kéo. Nhưng trang bị hiện đại là
một chuyện, còn trình độ kỹ chiến thuật và khả năng tác chiến của bộ đội lại là
chuyện khác.
Do yêu cầu nhiệm vụ, cấp trên tuyển
chọn một số cán bộ từ cấp tiểu đội cùng một số anh em quân cũ đã từng kinh qua
chiến đấu để đào tạo thành sĩ quan chỉ huy.
Anh Vũ Đình Đảng là một trong những
người được lựa chọn.
Tháng 8/1976, anh ra Đà Lạt học sĩ
quan.
Như vậy, anh xa đơn vị sau tôi
khoảng sáu tháng.
Tôi không biết khi ấy anh có nghĩ
rằng con đường binh nghiệp của mình còn kéo dài đến đâu không. Có lẽ chẳng ai
biết trước được tương lai. Những người lính chúng tôi khi ấy chỉ biết rằng đất
nước còn cần thì mình còn đi.
Từ
người Tiểu đội trưởng đến người Tiểu đoàn trưởng
Học xong lớp sĩ quan pháo binh, anh
được điều về công tác tại Quân đoàn 1.
Nhưng lịch sử đất nước lúc đó lại
một lần nữa đặt người lính trước những thử thách mới.
Chiến tranh bảo vệ biên giới phía
Bắc nổ ra và ngày càng ác liệt. Anh được điều động lên tuyến phòng thủ phía Bắc
với quân hàm Đại úy, Tiểu đoàn trưởng.
Từ một người Tiểu đội trưởng của
Tiểu đội trinh sát năm nào, anh đã trưởng thành qua quá trình chiến đấu, học
tập và rèn luyện để trở thành người chỉ huy một tiểu đoàn.
Ở mặt trận phía Bắc, anh đã có mặt
tại hầu hết các tỉnh biên giới.
Có lẽ con đường của người lính là
như vậy. Họ không tự chọn nơi chiến đấu cho mình. Đất nước cần ở đâu, họ có mặt
ở đó. Hết chiến trường này đến chiến trường khác, hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ
khác.
Năm 1987, anh chuyển ngành,
sau đó về nghỉ hưu.
Một đời quân ngũ của anh khép lại.
Nhưng những ký ức về những năm tháng
chiến đấu chắc chắn không bao giờ có thể khép lại hoàn toàn.
Trở
về quê hương
Khi về nghỉ hưu, anh trở lại quê nhà
ở thôn Tướng Loát, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Anh tâm sự rằng cuộc sống ở nơi cũ
khá chật chội. Ngôi nhà chỉ rộng vài chục mét vuông, lại nằm giữa làng. Ruộng
đồng thì xa, trong khi sức khỏe sau nhiều năm quân ngũ cũng đã yếu đi.
Trong khi đó, quê hương Yên Trị nằm
ở phía Nam huyện Ý Yên, một vùng đất gắn với đồng ruộng, sông nước và những
làng quê lâu đời của đồng bằng sông Hồng.
Yên Trị có nhiều thôn xóm như Tướng
Loát, Hạc Bổng, Xóm Giữa, Xóm Giáo, Xóm Bến, Xóm Trong, Trại Trong, Ngọc Trấn,
Vĩnh Trị và Trại Bến.
Đó là vùng đất được hình thành từ
sớm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng. Ý Yên vốn là một vùng quê giàu
truyền thống văn hóa, với nhiều làng nghề nổi tiếng qua nhiều thế hệ như đúc
đồng Tống Xá, mộc La Xuyên, sơn mài Cát Đằng.
Sự tài hoa của người dân Ý Yên còn
được kết tinh trong nhiều công trình văn hóa, tín ngưỡng như đình Ruối, đình
Cát Đằng, đình La Xuyên.
Quê hương ấy cũng lưu giữ một kho
tàng văn hóa dân gian phong phú. Làng chèo cổ Yên Nhân với những làn điệu được
cất lên từ vùng quê “đồng trắng, nước trong”, ca ngợi quê hương, tình làng
nghĩa xóm, đã góp phần tạo nên đời sống tinh thần bền bỉ của cộng đồng.
Ý Yên cũng là vùng đất nổi tiếng về
truyền thống học hành, khoa bảng, quê hương của nhiều tiến sĩ, Hoàng giáp, Phó
bảng, trong đó có những tên tuổi tiêu biểu như tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh.
Thế nhưng, phía sau những truyền
thống đáng tự hào ấy, cuộc sống của người dân ở quê anh khi đó vẫn chủ yếu dựa
vào nông nghiệp. Đời sống chỉ vừa đủ ăn và xã vẫn còn nghèo.
Vì thế, khi xã có chủ trương di dân
ra vùng đất ven sông Đáy để làm kinh tế gia đình, anh đã xung phong trở thành
một trong những người đi tiên phong.
Nơi ở mới ngày nay có tên là “Trại
Tướng” – có thể hiểu là nơi những người dân thôn Tướng Loát ra lập trang
trại, xây dựng cuộc sống mới.
Từ một người lính từng đi qua nhiều
chiến trường, anh trở về làm một người nông dân bình dị giữa quê hương.
37
năm và một cuộc gặp lại
Sau khi liên lạc được với anh, tôi
cùng Nguyễn Thế Vũ đã tìm về nhà anh.
Tôi đưa mẹ tôi đi cùng.
Tính từ ngày 2/4/1976 đến
ngày chúng tôi gặp lại nhau, đã tròn 37 năm.
Ba mươi bảy năm!
Một khoảng thời gian đủ dài để một
thế hệ trưởng thành, đủ dài để mái tóc xanh ngày nào bạc đi, đủ dài để những
chiến trường năm xưa trở thành ký ức.
Nhưng khi gặp lại anh – người Tiểu
đội trưởng năm xưa, người lính “Cụ Hồ” từng cùng tôi đi qua những năm tháng
chiến tranh – tôi vẫn cảm nhận được sự thân thuộc như ngày nào.
Có những tình đồng đội thật kỳ lạ.
Không cần nói quá nhiều.
Không cần phải nhắc lại hết những
chuyện đã qua.
Chỉ cần nhìn thấy nhau là những ký
ức cũ đã tự nhiên trở về.
Ngôi nhà của anh hôm nay nằm trên
khu đất hơn 1.000m² ven dòng sông Đáy hiền hòa.
Mái nhà cấp bốn, hiên Tây mái chảy
khoảng 50m². Hai cái ao nuôi cá rộng khoảng 500m². Anh có tám sào ruộng nước,
mỗi năm làm hai vụ, thu hoạch khoảng 3,5 tấn lúa.
Không phải một cuộc sống giàu có.
Nhưng đó là một cuộc sống đủ ăn,
bình yên và hạnh phúc.
Gia đình anh có một người vợ, hai
người con, nay các con đã có dâu, có rể, có cháu nội, cháu ngoại.
Anh cười hiền.
Một nụ cười rất đỗi bình dị của một
người đã đi qua quá nhiều gian khó.
Hai bà mẹ chiến sĩ
Có lẽ điều xúc động nhất trong cuộc gặp hôm ấy không chỉ là chuyện chúng tôi – những người lính năm xưa – được gặp lại nhau.
Anh Đảng đã đón mẹ anh ra nhà.
Và thế là hai bà mẹ chiến sĩ năm
nào gặp nhau.
Hai người mẹ ngồi trò chuyện, nhắc
lại cái thời xa xưa ấy.
Có những câu chuyện có lẽ chỉ những
người đã từng sống trong thời chiến mới hiểu.
Có những nỗi lo của người mẹ có con
ra trận không dễ gì diễn tả bằng lời.
Ngày ấy, các mẹ tiễn con đi mà chẳng
biết ngày nào con trở về.
Các mẹ chỉ biết gửi vào người con
một niềm tin.
Còn những người lính như chúng tôi
ra đi, nhiều khi cũng chẳng dám nghĩ quá xa. Chỉ biết đất nước còn chiến tranh
thì mình phải đi.
“Đâu còn giặc là ta còn đi chiến
đấu.”
Đó không chỉ là một câu nói.
Đó là tâm thế của cả một thế hệ.
Một thế hệ đã dành những năm tháng
đẹp nhất của tuổi trẻ cho đất nước.
Và hôm nay, khi chiến tranh đã lùi
xa, các mẹ có thể ngồi bên nhau, nhìn những đứa con của mình đã trưởng thành,
đã trở về, đã hoàn thành nghĩa vụ của một người thanh niên đối với Tổ quốc.
Niềm vui vì thế mà nhân lên.
Lời
hẹn năm xưa đã thành sự thật
Chúng tôi cùng nhau trò chuyện, nhắc
lại những ngày gian khó.
Chiến tranh đã lùi xa.
Những chiến trường tận miền Tây Nam
Bộ giờ đây chỉ còn lại trong ký ức.
Vậy mà nhân duyên thật kỳ lạ.
Ngày ấy, chúng tôi sống với nhau nơi
chiến trận ở tận miền Tây Nam Bộ.
Hôm nay, chúng tôi lại gặp nhau giữa
vùng châu thổ sông Hồng.
Hai vùng đất cách nhau hàng nghìn
cây số, nhưng tình đồng đội lại nối liền tất cả.
Tôi nhớ lại lời hẹn từ những năm đất
nước còn “chia đôi”:
Bao giờ hết giặc, ai có điều kiện
thì tìm về gặp nhau nhé!
Lời hẹn ấy tưởng như đơn giản.
Nhưng để thực hiện được lại phải đi
qua biết bao năm tháng.
Cuối cùng, sau 37 năm, lời hẹn năm
xưa đã trở thành sự thật.
Còn gì vui hơn niềm vui của những
người lính khi được gặp lại nhau?
Có lẽ đó là một trong những niềm vui
giản dị mà sâu sắc nhất của cuộc đời.
Con
đường quê hôm nay
Đất nước hòa bình.
Về quê anh bây giờ đã dễ dàng hơn
rất nhiều. Những con đường nhựa thẳng tắp nối các vùng quê lại với nhau.
Từ Hà Nội đi Phủ Lý, theo đường 21B,
vào đường Chợ Viềng – Phủ Dầy, qua ngã ba Cát Đằng, qua xã Yên Tiến, xã Yên
Đồng rồi đến xã Yên Trị. Sau đó hỏi đường về “Trại Tướng” là có thể tìm được
nhà anh.
Khoảng cách chỉ chừng 110 km, đường
đi tuy còn nhỏ hẹp nhưng đã thuận tiện hơn rất nhiều so với những năm tháng
chiến tranh.
Ngày trước, chúng tôi hành quân bằng
những con đường của chiến trận.
Hôm nay, chúng tôi tìm về nhau bằng
những con đường của hòa bình.
Đó có lẽ cũng là sự thay đổi lớn lao
nhất mà thế hệ chúng tôi may mắn được chứng kiến.
Lời
kết
Ba mươi bảy năm sau ngày chia tay,
người Tiểu đội trưởng năm xưa vẫn ở đó – chỉ khác rằng mái tóc đã bạc, cuộc đời
quân ngũ đã khép lại và anh đã trở về với ruộng đồng, ao cá, gia đình và quê
hương.
Nhưng trong ánh mắt, trong nụ cười
và trong những câu chuyện kể, hình bóng người lính năm xưa dường như vẫn còn
nguyên vẹn.
Tôi nghĩ, có những người chúng ta
gặp trong đời chỉ một lần rồi quên. Nhưng cũng có những người, dù xa cách hàng
chục năm, khi gặp lại vẫn thấy gần gũi như chưa từng chia xa.
Bởi họ đã cùng ta đi qua một phần
của tuổi trẻ.
Cùng ta chịu đựng gian khổ.
Cùng ta đứng giữa những thời khắc mà
sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau một khoảnh khắc.
Và có lẽ chính những năm tháng ấy đã
tạo nên một sợi dây tình cảm mà thời gian không thể xóa nhòa.
Chiến tranh đã lùi xa.
Những người lính năm xưa nay đã trở
về với cuộc sống đời thường.
Người làm ruộng, người xây dựng gia
đình, người về hưu, người đã đi xa… Mỗi người một số phận, một con đường.
Nhưng khi ngồi lại bên nhau, chúng
tôi vẫn là những người lính của ngày nào.
Vẫn có thể gọi nhau bằng những cái
tên thân thuộc.
Vẫn có thể kể cho nhau nghe những
câu chuyện cũ.
Vẫn có thể cùng cười, cùng lặng đi
khi nhớ về những người đồng đội đã không còn trở về.
Và trên hết, chúng tôi có thể tự hào
rằng mình đã từng có một tuổi trẻ như thế – một tuổi trẻ đã sống, đã chiến đấu
và đã cống hiến cho Tổ quốc.
Cuộc gặp mặt ba người cựu chiến binh
D23-11 tháng 2/2013 vì thế không chỉ đơn giản là một cuộc hội ngộ.
Đó là cuộc trở về của ký ức.
Là cuộc trở về của tình đồng đội.
Là cuộc trở về với một phần tuổi trẻ
đã gửi lại nơi chiến trường.
Và cũng là minh chứng rằng:
Có những lời hẹn dù phải mất 37 năm
mới thực hiện được, nhưng nếu trong lòng còn nhớ, thì ngày gặp lại vẫn luôn là
một ngày đẹp.
(Ngô Lê Lợi
(Tháng 2/2013 – Ngày gặp mặt 3 người cựu chiến binh D23-11)