| Ảnh chụp ở Sân Đền Hạ (Lào Cai) |
30/4 và 36 năm đã trôi qua. Bất
giác, tôi lại nhớ về cuộc đời quân ngũ, về những năm tháng chiến tranh, về hành
trình của thời gian và cuộc đời.
Nhanh thật!
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của dân tộc Việt Nam đã đi đến ngày toàn thắng. Là một người thanh niên từng
thực hiện nghĩa vụ chống xâm lăng, được chứng kiến ngày đất nước thống nhất,
hôm nay nhìn lại, tôi thấy lòng mình thanh thản lạ thường.
Mình đã có một đóng góp nhỏ bé vào
cuộc trường chinh ấy.
Và tôi thấy điều đó thật có ý nghĩa.
Nhân dịp này, gia đình tôi cùng hai
gia đình người bạn tổ chức một chuyến hành hương kết hợp picnic, tìm về những
vùng đất linh thiêng, những danh thắng của đất nước.
Chúng tôi đi trên chiếc Mercedes GL
450 của một người bạn, Giám đốc Công ty Cổ phần Phát triển Năng lượng Sơn-Vũ –
Hà Nội.
Chuyến đi không chỉ là một chuyến du
lịch.
Đó còn là dịp để trở về với thiên
nhiên, với lịch sử, với những vùng đất đã ghi dấu bao nhiêu năm tháng của dân
tộc.
Và càng đi, lòng tôi càng thấy nhẹ nhõm, thanh thản hơn.
| Ông Nguyễn Văn Ngọc Giám đốc công ty CP phát triển năng Lương Sơn Vũ -Hà Nội (Chụp tại Văn phòng) |
Đoàn xuất phát từ Thủ đô Hà Nội.
Chúng tôi đi trên Đại lộ Thăng Long
– con đường dài, rộng và hiện đại, mang theo niềm tự hào của một đất nước đang
đổi thay.
Từ Hà Nội, đoàn đi qua Hòa Lạc, Xuân
Mai rồi nhập vào tuyến đường mòn ngày xưa – nay là đường Hồ Chí Minh.
Đây chính là vùng đất từng gắn với
những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trong những năm chiến tranh, Bác Hồ
kính yêu đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng mở tuyến đường bí mật để vận chuyển quân
đội và hậu cần vào miền Nam.
Con đường ấy đã trở thành một phần
của huyền thoại Trường Sơn.
Tính đến năm 1975, hơn 2,5 vạn cán
bộ, chiến sĩ và thanh niên xung phong đã ngã xuống để làm nên huyền thoại ấy.
Tuyến đường Trường Sơn có tổng chiều
dài gần 20.000 km, xuyên qua ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia.
Ngày hôm nay, đường Trường Sơn –
đường Hồ Chí Minh không chỉ là chứng tích của một thời kỳ lịch sử chói lọi mà
còn trở thành tuyến giao thông quan trọng, nối những bản làng xa xôi với đồng
bằng, góp phần phát triển kinh tế và ổn định đời sống vùng sâu, vùng xa.
Con đường của chiến tranh ngày nào
nay đã trở thành con đường của hòa bình và phát triển.
Tôi chợt nhớ câu nói của cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng:
“Đất nước ta vĩ đại thật.”
| Đại ngàn Trường Sơn những năm đánh Mỹ |
Đường Hồ Chí Minh hôm nay thẳng và
đẹp.
Đi trên đường, có thể nhìn rất rõ
tuyến đường dây 500KV chạy song song.
Đường khá vắng xe. Tuy nhiên, trong
dịp 30/4/2011, lượng ô tô tăng đột biến và đã xảy ra một số tai nạn.
Có lẽ cũng bởi đường đẹp, rộng và
thoáng nên nhiều người dễ chạy nhanh, như cách nói vui của chúng tôi là:
“Mát cái chân ga.”
Nhưng điều khiến tôi nhớ nhất vẫn là
phong cảnh hai bên đường.
Đẹp như tranh.
Một bên là núi rừng, một bên là
những cánh đồng trải dài. Những vùng đất còn khá hoang sơ khiến người đi đường
có thể hình dung ra tiềm năng phát triển của một đất nước đang trên đường công
nghiệp hóa.
Từ Thanh Hóa trở vào, những rừng cao
su hiện ra thẳng tắp.
Những cánh đồng mía trải dài bất
tận.
Những đồng cỏ rộng lớn mở ra một
tương lai đầy hứa hẹn cho ngành chăn nuôi bò sữa, dê sữa.
Nhìn cảnh ấy, tôi không khỏi xúc
động:
Ôi, đất nước Việt Nam sao mà ta yêu
biết mấy!
Ai đã một lần đi trên đường Hồ Chí
Minh, có lẽ cũng sẽ cảm nhận được sự phơi phới ấy.
| Trường Sơn bây giờ |
Đi trên con đường hôm nay, tôi lại
nhớ về những năm tháng chiến tranh.
Nhớ những câu thơ của Phạm Tiến
Duật.
Ngày ấy, những người lính đi qua
Trường Sơn trên những chiếc xe không kính. Những cung đường rung lắc, những cơn
mưa rừng, những đoạn đường trơn trượt, bùn lầy, nắng cháy, vắt bám...
Có những đêm giữa rừng, những người
lính mắc võng ngủ giữa hai đầu xe.
Tất cả những gian khổ ấy giờ đã lùi
xa.
Hôm nay, đi trên con đường rộng và
đẹp, tôi không còn thấy những chiếc xe không kính hay những cung đường bùn đất
năm nào.
Tôi chỉ còn nghe trong tâm tưởng
những câu đồng dao của bà, của mẹ đã hát ru tôi thuở nhỏ.
Trời hôm nay là của ta.
Đất hôm nay là của ta.
Đi trên mảnh đất mà ông cha, đồng
đội và cả thế hệ chúng tôi đã đổ máu để bảo vệ, trong lòng tôi dâng lên một
niềm tự hào khó tả.
Những con đò hôm nay nhẹ mái buông
chèo.
Cánh cò bay không mỏi.
Câu ca vút cao trong gió mới Trường
Sơn.
Những mùa vàng bội thu đang báo tin
vui trên mảnh đất ngàn đời chiến thắng ngoại xâm.
Dưới những cây cầu trên đường Hồ Chí
Minh, dòng sông vẫn hiền hòa.
Những con thuyền chở đầy hàng hóa
nhẹ nhàng xuôi dòng.
Một cảnh thanh bình giản dị mà sao
đáng yêu đến thế!
Ôi, Tổ quốc ta sao đẹp thế!
| Cánh đồng mía |
4. NHỮNG LÀNG QUÊ ĐANG ĐỔI THAY
Hai bên đường là những cánh đồng,
những thôn làng, những phum sóc nghèo khó ngày xưa.
Hôm nay, nhiều nơi đã trở thành
những khu dân cư, những làng định cư đang từng ngày phát triển.
Cuộc sống đang đổi thay.
Đường sá tốt hơn.
Nhà cửa khang trang hơn.
Những vùng đất từng chịu đựng bom
đạn nay đang trở thành những vùng quê yên bình.
Có lẽ đó chính là ý nghĩa đẹp nhất
của hòa bình.
Chiến tranh đã đi qua.
| Làng định cư 2 bên đường Hồ Chí Minh |
| Cung thờ Quan Ông Hoàng Mười |
Trong tâm thức dân gian của người Hà
Tĩnh – Xứ Nghệ, ông Hoàng Mười được xem là hiện thân của vị tướng Lê Khôi,
một nhân vật gắn với nghĩa quân Lam Sơn.
Lê Khôi gọi Lê Lợi bằng chú và có
nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Ông từng làm quan qua ba đời vua Lê,
giữ chức Khâm sai tiết chế thủy, lục chư dinh hộ vệ Thượng tướng quân.
Ông mất năm Bính Dần, 1446, và được
an táng trên ngọn Long Ngâm của núi Nam Giới, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Sau đó, ông được tấn phong Uy Mục
Đại Vương, rồi Chiêu Trưng Đại Vương vào năm 1487.
Ở xứ Nghệ, dân gian còn đồng nhất
ông Hoàng Mười với một nhân vật lịch sử khác là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang,
con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ, từng làm Tri châu Nghệ An.
Những câu chuyện ấy hòa quyện giữa
lịch sử và tín ngưỡng dân gian, tạo nên hình tượng ông Hoàng Mười rất đặc biệt
trong đời sống tinh thần của người dân Xứ Nghệ.
7. ĐỀN CỦI – NƠI SÔNG NÚI GIAO HÒA
Từ Quốc lộ 1, men theo chân núi Ngũ
Mã khoảng 300 mét, rồi xuôi theo bờ sông thêm vài chục mét là đến Đền Củi.
Đây là nơi dãy Hồng Lĩnh như vươn
mình xuống và dòng sông Lam uốn lượn phía trước.
Đền nằm trên núi Khu Độc thuộc Ngũ
Mã, hướng về phương Bắc, tựa lưng vào núi và nhìn xuống Lam Giang.
Các tòa điện được xây cao dần theo
thế núi, tạo nên dáng vẻ uy nghiêm, đường bệ giữa những hàng cây cổ thụ.
Trước đền là sông nước mênh mang.
Không gian kiến trúc hòa quyện với
thiên nhiên, tạo nên cảm giác vừa huyền ảo vừa linh thiêng.
Qua nhiều lần tôn tạo, ngôi đền vẫn
giữ được phần nào nét cổ kính, hài hòa với cảnh quan sông núi.
Tam quan của đền nằm liền bên sông,
cao hai tầng, với những đường nét mềm mại và hình tượng đôi rồng chầu nguyệt.
Trên mặt trước tam quan có câu đối:
“Lam giang hiển hách tự thiên thu
Ngũ mã anh linh chung tú khí.”
Bên trong tam quan là hồ bán nguyệt
ở sân thấp nhất.
Từ hồ đi qua bảy bậc thềm lên sân
trên, rồi bước thêm năm bậc nữa mới tới khu đền chính.
Đền được xây theo kiểu chữ Tam, gồm
ba tòa, mỗi tòa ba gian.
Các tòa liên kết với nhau thành một
tổng thể thống nhất, được bố trí thành các cung thờ.
Từ ngoài vào là:
- Cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu.
- Cung Ngũ Vị Tôn Ông.
- Cung Hoàng Mười.
- Cung Chầu Mười.
- Cung Trần Triều.
Tại cung thờ ông Hoàng Mười có hai
bức đại tự:
“Mẫu Đức Chiếu Ảnh”
và
“Huyền Từ Bố Chứng”.
Cùng với đó là những câu đối ca ngợi
sự linh thiêng của đền.
8. MỘT CHỐN HÀNH HƯƠNG THANH TỊNH
Từ xưa đến nay, Đền Củi vẫn được
người dân truyền tụng là nơi linh thiêng.
Khách thập phương tìm về đây quanh
năm, đặc biệt từ những ngày đầu năm mới.
Không chỉ người Xứ Nghệ mà nhiều
người từ khắp nơi cũng tìm đến để vãn cảnh, dâng hương và cầu nguyện.
Hội đền được tổ chức vào ngày 10
tháng 8 âm lịch.
Đứng giữa không gian núi non, sông
nước và ngôi đền cổ, người hành hương có thể tìm thấy những phút giây thảnh
thơi, tĩnh tại.
Tiếng văn chầu, không khí lễ hội và
cảnh sắc thiên nhiên hòa vào nhau tạo nên một không gian rất riêng.
Tạm biệt Đền Củi, chúng tôi lại lên
đường.
Điểm tiếp theo là Thanh Hóa.
| Cung Thờ Bà Chúa Liễu Hạnh Đền Sòng Thanh Hóa |
Đoàn chuyển hướng ra thành phố Thanh
Hóa, hướng về Đền Cô Bơ.
Theo truyền thuyết, Cô Bơ Thoải
Cung vốn là con của Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công
Chúa.
Có truyền thuyết lại kể rằng cô là
con gái vua Long Vương, xinh đẹp và nết na, được Đức Vương Mẫu cho theo hầu cận
trong cung.
Sau này, Cô Bơ giáng sinh vào thời
Lê Trung Hưng.
Tương truyền, Đức Thái Bà từng nằm
mộng thấy một người con gái xinh đẹp, dáng ngọc, tóc mượt, mắt sáng, má hồng,
môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập và dâng một viên minh châu.
Người con gái ấy nói mình là Thủy
Cung Tiên Nữ, vâng lệnh xuống trần đầu thai để sau này giúp vua, giúp nước.
Sau giấc mộng ấy, Thái Bà thụ thai.
Đến ngày 8/2, giữa lúc trên trời mây
xanh uốn lượn, nhạc từ Thủy Cung vang lên, bà sinh một người con gái có dung
mạo đúng như người đã xuất hiện trong giấc mơ.
Gia đình tin rằng đây là một thần nữ
giáng trần nên hết lòng nuôi dưỡng, dạy dỗ.
Cô lớn lên trở thành một thiếu nữ
xinh đẹp, giỏi văn thơ, đàn hát.
| Đền Cô Chín Sòng Sơn |
10. CÔ BƠ VÀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
QUÂN MINH
Khi cô vừa độ trăng tròn, đất nước
lại rơi vào cảnh chiến tranh.
Cô cùng thân mẫu lánh về vùng Hà
Trung, Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn.
Theo truyền thuyết, trong những năm
đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lực lượng nghĩa quân còn yếu và thường xuyên
bị quân Minh truy đuổi.
Một lần, Lê Lợi – có truyền thuyết
nói là Lê Lai – bị quân địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn.
Tại đây, ông gặp Cô Bơ đang tỉa ngô.
Ông nhờ cô giúp đỡ.
Cô bảo ông lấy quần áo nông dân mặc
vào, còn áo bào thì đem vùi xuống ruộng ngô.
Sau đó, cả hai cùng xuống ruộng, giả
như đang tỉa ngô.
Quân Minh đuổi tới nơi, hỏi cô có
thấy ai chạy qua không.
Cô trả lời rằng chỉ có cô và anh
trai đang tỉa ngô.
Quân giặc không nghi ngờ và bỏ đi.
Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn rằng sau
ngày đại thắng sẽ đón cô về triều, phong công và phong làm phi tử.
Nhưng Cô Bơ không chỉ giúp một lần.
Sau đó, cô còn bí mật chèo thuyền
trên ngã ba sông để chở quân sĩ qua sông, vận chuyển cả quân nhu, quân lương.
Ngày khúc hát khải hoàn vang lên.
Đất nước chiến thắng.
Vua Lê nhớ đến người thiếu nữ năm
xưa ở đất Hà Trung và sai quân đến đón.
Nhưng khi quân lính tìm đến nơi, cô
đã mất từ bao giờ.
Các bô lão kể rằng cô đã một lòng
chờ đợi, không chịu kết duyên với ai.
Cho đến khi qua đời, cô vẫn giữ lòng
kiên trinh.
Dân gian tin rằng Cô Bơ được lệnh
Vua Cha giáng trần để giúp vua, giúp nước. Đến khi mãn hạn, cô được xe loan đón
trở về Thủy Cung.
Sau khi hóa, cô tiếp tục được tin là
hiển linh, giúp đỡ người dân vùng ngã ba sông và phù hộ cho thuyền bè đi lại
thuận buồm xuôi gió.
Vì vậy, cô còn được gọi là Cô Bơ
Bông hoặc Cô Bơ Thác Hàn.
| Cung Thờ Cô Chín Đền Sòng Sơn |
Theo quan niệm dân gian, Cô Bơ Bông
là người hầu cận Mẫu Thoải.
Theo sự tích gắn với vùng Hà Trung,
nơi quê nhà của cô nằm ở ngã ba Bông, bến Đò Lèn, nên đền thờ cô được lập tại
đây, gần Đền Mẫu Thác Hàn.
Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn,
huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày trước, đường vào đền khá khó
khăn.
Ngày nay, đường đã được sửa thành
đường bê tông nên việc đi lại thuận tiện hơn.
Từ cầu Lèn trên Quốc lộ 1, đi theo
đường bê tông khoảng 15 km là đến đền.
Nơi đây có cảnh sắc đặc trưng của
vùng sông nước:
“Trên bến, dưới thuyền.”
Một không gian vừa linh thiêng vừa
thơ mộng.
| Lễ trong Đền Bà Chúa Thác Bờ |
Khoảng 21 giờ, đoàn tiếp tục hành
trình.
Chúng tôi đi ra thị xã Bỉm Sơn và
đến Đền Sòng Sơn – nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh – cùng Đền Cô Chín Giếng, nơi
thờ một tiên nữ theo hầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Ngày xưa, Đền Sòng thuộc trang Cổ
Đam, Phú Dương, phủ Tống, Thanh Hóa.
Ngày nay, đền thuộc phường Bắc Sơn,
thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Theo sử liệu, Đền Sòng còn gọi là
Đền Sùng Sơn, được dựng vào thời Cảnh Hưng triều Lê Hiến Tông.
Đây được xem là một trong những nơi
gắn với truyền thuyết Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng trần.
Đặc biệt, trong một lần trùng tu vào
tháng 4/1939, khi đào đất xây dựng bình phong trước cửa chính, người ta tìm
thấy một chiếc tráp đồng hình chữ nhật.
Bên trong có một cuốn sách gồm nhiều
tờ bằng đồng, ghi niên hiệu Vĩnh Tộ đời Lê Thần Tông và chép lại lịch sử gia
đình nữ thần Vân Hương, tức Liễu Hạnh.
14. THÁNH MẪU LIỄU HẠNH – MỘT HÌNH TƯỢNG ĐẶC
BIỆT
Theo truyền thuyết, Liễu Hạnh tiên
nữ giáng trần ba lần.
Lần thứ nhất tại làng An Thái, xã
Vân Cát, huyện Thiên Bản, nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, vào năm Thiên
Hựu đời vua Lê Anh Tông.
Sau 21 năm ở trần gian, nàng trở về
trời.
Lần thứ hai, nàng lại giáng trần tại
vùng đất cũ.
Lần thứ ba, nàng cùng hai thị nữ Quế
Nương và Thị Nương giáng trần tại Phố Cát, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa, vào
thời vua Lê Huyền Tông.
Sau đó, nàng hiển thánh tại Sùng
Sơn.
Theo “Truyền kỳ Tân Phả” của Đoàn
Thị Điểm, Liễu Hạnh có tên tuổi và quê quán rõ ràng.
Điều đặc biệt là hình tượng Liễu
Hạnh trong văn hóa dân gian không chỉ là một vị tiên.
Nàng được hình dung như một người
phụ nữ rất gần gũi với cuộc sống trần gian.
Là người con gái nết na, đoan trang,
phúc hậu.
Là người vợ thủy chung.
Là người mẹ yêu thương con hết mực.
Nhưng khi trở thành tiên chúa, Liễu
Hạnh lại vượt lên những ràng buộc của lễ giáo phong kiến.
Nàng có cá tính mạnh mẽ.
Nàng đi mây về gió, giao du rộng
rãi, mở quán bán hàng, xướng họa cùng các tao nhân mặc khách.
Những câu chuyện về cuộc gặp gỡ với
Phùng Khắc Khoan và các tao nhân ở Hồ Tây càng làm cho hình tượng Liễu Hạnh trở
nên sống động trong văn hóa dân gian Việt Nam.
| Đền Thượng Lào Cai |
Đền Sòng quay mặt về hướng Tây Bắc.
Phía trước đền là một hồ nước tự
nhiên hình bán nguyệt, thường được gọi là Hồ Cá Thần.
Theo truyền thuyết, vào khoảng tháng
Giêng, tháng Hai, một đàn cá có thân màu đỏ thường kéo về bơi trong hồ.
Khi lễ hội kết thúc, đàn cá lại biến
mất.
Người dân quanh vùng kể rằng đó là
những nàng tiên trên thượng giới hóa phép về hầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Hồ Cá Thần có hai con suối nhỏ uốn
lượn quanh, khiến ngôi đền giống như đang ngự trên một hòn đảo nhỏ.
Phía trước đền có một cây cầu đá do
Bà Hoàng Thái hậu nhà Lê phát tâm công quả xây dựng năm thứ 33 triều Cảnh Hưng,
tức năm 1772.
Hai dòng suối uốn khúc về phía Đông
rồi hợp lưu với chín dòng nước từ lòng đất tạo thành Chín Giếng, những
giếng nước tự nhiên được truyền tụng là không bao giờ cạn.
16. ĐỀN CÔ CHÍN GIẾNG
Cách Đền Sòng khoảng 1 km về phía
Đông là Đền Cô Chín Giếng.
Tại nơi có chín giếng nước tự nhiên,
người dân dựng đền để thờ Cô Chín – một tiên nữ được truyền thuyết kể là theo
hầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Du khách sau khi vãn cảnh Đền Sòng
thường tiếp tục đến đây dâng hương.
Hai ngôi đền vì thế tạo thành một
hành trình tâm linh liền mạch.
17. BÊN TRONG ĐỀN SÒNG
Bước qua cổng tam quan, điều đầu
tiên du khách bắt gặp là tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát.
Tiếp đó là cung Đệ Tam, nơi thờ Hội
đồng Thánh Quan cùng các ông Hoàng và các Cô đệ tử.
Nổi bật là ông Hoàng Bơ, ông Hoàng
Bảy.
Tại đây cũng phối thờ Đức Thánh Trần
Hưng Đạo Vương.
Qua cung Đệ Nhị là cung Đệ Nhất.
Không gian nơi đây thâm nghiêm và
thường chỉ mở cửa vào những dịp lễ rước Thánh Mẫu hằng năm trong tháng Hai âm
lịch.
Gian chính thờ Thánh Mẫu trong trang
phục màu đỏ lộng lẫy, dáng ngồi uy nghi nhưng khoan dung.
Hai bên là hai đệ tử thân tín Quế
Nương và Nhị Nương – những người được truyền thuyết kể là đã cùng Liễu Hạnh
giáng trần.
Hai gian bên thờ Mẫu Thoải – thần
nước – và Mẫu Thượng Ngàn – thần núi rừng.
Trên các cột và xà ngang của đền là
nhiều cuốn thư, hoành phi, câu đối ca ngợi công đức và sự linh thiêng của Thánh
Mẫu Liễu Hạnh.
18. ĐÊM Ở BỈM SƠN
Đêm hôm ấy, đoàn nghỉ tại thị xã Bỉm
Sơn.
Một ngày dài khép lại.
Từ Hà Nội, chúng tôi đã đi qua những
vùng đất gắn với lịch sử, chiến tranh, tín ngưỡng và đời sống văn hóa của người
Việt.
Nhưng hành trình vẫn chưa kết thúc.
| Thư dãn bên quán Cape ở Thành phố Lào Cai-Hạnh phúc cuộc đời |
Chuyến đi 30/4 – 1/5/2011 đối với
tôi không đơn thuần là một chuyến du lịch.
Đó là một hành trình trở về.
Trở về với những năm tháng chiến
tranh.
Trở về với con đường Trường Sơn
huyền thoại.
Trở về với những miền quê đã từng
chịu đựng bom đạn nhưng hôm nay đang hồi sinh.
Trở về với những ngôi đền, những
truyền thuyết và đời sống tâm linh đã tồn tại qua nhiều thế hệ.
Và trên hết, đó là hành trình để tôi
nhìn lại chính mình sau 36 năm.
Ba mươi sáu năm kể từ ngày đất nước
thống nhất.
Ba mươi sáu năm kể từ những năm
tháng tuổi trẻ.
Thời gian đã đưa chúng ta đi rất xa.
Những con đường năm xưa nay đã rộng
mở.
Những vùng đất từng chìm trong khói
lửa nay đã có những cánh đồng xanh, những làng quê bình yên, những con thuyền
đầy hàng hóa xuôi dòng.
Đứng giữa thiên nhiên hôm nay, tôi
càng thấm thía giá trị của hòa bình.
Có những điều chỉ khi đi qua một
chặng đường rất dài của cuộc đời, con người mới thực sự cảm nhận được.
Đó là sự bình yên.
Là niềm tự hào.
Là lòng biết ơn đối với những người
đã nằm lại trên những con đường mà hôm nay chúng ta đang đi.
Và cũng là tình yêu đối với đất nước
– một tình yêu đôi khi rất giản dị:
Một con đường đẹp.
Một dòng sông.
Một cánh đồng.
Một cánh cò.
Một mái chèo nhẹ trên mặt nước.
Một câu hát vọng lên giữa trời xanh.
Đất nước hôm nay là của chúng ta.
Và nhìn lại hành trình 36 năm, tôi
thấy lòng mình thanh thản.
Bởi những gì đã đi qua không mất đi.
| Cảnh 2 bên đường mòn Hồ Chí Minh nay là đường Hồ Chí Minh, bản làng giờ đây đang ngày càng đổi mới và rất đẹp |
| Cảnh một góc Thị xã Bỉm Sơn Hôm nay (36 năm trước nơi đây bị bom Mỹ tàn phá nặng nề) đang thay da đổi thịt |
| Cung thờ Cô Chín-Đền Sòng Thanh Hóa |
| Cá vàng trong hồ (Ngô Lê Lợi -30/4/2011.Một chuyến đi
– một hành trình trở về. |

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét