ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Bút ký Du lịch: 30/4/2011 và Hành trình 36 năm

                                       
Ảnh chụp ở Sân Đền Hạ (Lào Cai)
 Năm nay, dịp 30/4, sao thấy lòng mình rộn ràng đến thế!

30/4 và 36 năm đã trôi qua. Bất giác, tôi lại nhớ về cuộc đời quân ngũ, về những năm tháng chiến tranh, về hành trình của thời gian và cuộc đời.

Nhanh thật!

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam đã đi đến ngày toàn thắng. Là một người thanh niên từng thực hiện nghĩa vụ chống xâm lăng, được chứng kiến ngày đất nước thống nhất, hôm nay nhìn lại, tôi thấy lòng mình thanh thản lạ thường.

Mình đã có một đóng góp nhỏ bé vào cuộc trường chinh ấy.

Và tôi thấy điều đó thật có ý nghĩa.

Nhân dịp này, gia đình tôi cùng hai gia đình người bạn tổ chức một chuyến hành hương kết hợp picnic, tìm về những vùng đất linh thiêng, những danh thắng của đất nước.

Chúng tôi đi trên chiếc Mercedes GL 450 của một người bạn, Giám đốc Công ty Cổ phần Phát triển Năng lượng Sơn-Vũ – Hà Nội.

Chuyến đi không chỉ là một chuyến du lịch.

Đó còn là dịp để trở về với thiên nhiên, với lịch sử, với những vùng đất đã ghi dấu bao nhiêu năm tháng của dân tộc.

Và càng đi, lòng tôi càng thấy nhẹ nhõm, thanh thản hơn.

  1. THEO ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH – TRỞ VỀ VỚI LỊCH SỬ

Đoàn xuất phát từ Thủ đô Hà Nội.

Chúng tôi đi trên Đại lộ Thăng Long – con đường dài, rộng và hiện đại, mang theo niềm tự hào của một đất nước đang đổi thay.

Từ Hà Nội, đoàn đi qua Hòa Lạc, Xuân Mai rồi nhập vào tuyến đường mòn ngày xưa – nay là đường Hồ Chí Minh.

Đây chính là vùng đất từng gắn với những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trong những năm chiến tranh, Bác Hồ kính yêu đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng mở tuyến đường bí mật để vận chuyển quân đội và hậu cần vào miền Nam.

Con đường ấy đã trở thành một phần của huyền thoại Trường Sơn.

Tính đến năm 1975, hơn 2,5 vạn cán bộ, chiến sĩ và thanh niên xung phong đã ngã xuống để làm nên huyền thoại ấy.

Tuyến đường Trường Sơn có tổng chiều dài gần 20.000 km, xuyên qua ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia.

Ngày hôm nay, đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh không chỉ là chứng tích của một thời kỳ lịch sử chói lọi mà còn trở thành tuyến giao thông quan trọng, nối những bản làng xa xôi với đồng bằng, góp phần phát triển kinh tế và ổn định đời sống vùng sâu, vùng xa.

Con đường của chiến tranh ngày nào nay đã trở thành con đường của hòa bình và phát triển.

Tôi chợt nhớ câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

“Đất nước ta vĩ đại thật.”


Đại ngàn Trường Sơn những năm đánh Mỹ

 2. ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH HÔM NAY

Đường Hồ Chí Minh hôm nay thẳng và đẹp.

Đi trên đường, có thể nhìn rất rõ tuyến đường dây 500KV chạy song song.

Đường khá vắng xe. Tuy nhiên, trong dịp 30/4/2011, lượng ô tô tăng đột biến và đã xảy ra một số tai nạn.

Có lẽ cũng bởi đường đẹp, rộng và thoáng nên nhiều người dễ chạy nhanh, như cách nói vui của chúng tôi là:

“Mát cái chân ga.”

Nhưng điều khiến tôi nhớ nhất vẫn là phong cảnh hai bên đường.

Đẹp như tranh.

Một bên là núi rừng, một bên là những cánh đồng trải dài. Những vùng đất còn khá hoang sơ khiến người đi đường có thể hình dung ra tiềm năng phát triển của một đất nước đang trên đường công nghiệp hóa.

Từ Thanh Hóa trở vào, những rừng cao su hiện ra thẳng tắp.

Những cánh đồng mía trải dài bất tận.

Những đồng cỏ rộng lớn mở ra một tương lai đầy hứa hẹn cho ngành chăn nuôi bò sữa, dê sữa.

Nhìn cảnh ấy, tôi không khỏi xúc động:

Ôi, đất nước Việt Nam sao mà ta yêu biết mấy!

Ai đã một lần đi trên đường Hồ Chí Minh, có lẽ cũng sẽ cảm nhận được sự phơi phới ấy.

Trường Sơn bây giờ
 
Đường Hồ Chí Minh qua Thanh Hóa-Nghệ An
 3. TRƯỜNG SƠN – TỪ NHỮNG NĂM THÁNG GIAN KHỔ ĐẾN NGÀY HÒA BÌNH

Đi trên con đường hôm nay, tôi lại nhớ về những năm tháng chiến tranh.

Nhớ những câu thơ của Phạm Tiến Duật.

Ngày ấy, những người lính đi qua Trường Sơn trên những chiếc xe không kính. Những cung đường rung lắc, những cơn mưa rừng, những đoạn đường trơn trượt, bùn lầy, nắng cháy, vắt bám...

Có những đêm giữa rừng, những người lính mắc võng ngủ giữa hai đầu xe.

Tất cả những gian khổ ấy giờ đã lùi xa.

Hôm nay, đi trên con đường rộng và đẹp, tôi không còn thấy những chiếc xe không kính hay những cung đường bùn đất năm nào.

Tôi chỉ còn nghe trong tâm tưởng những câu đồng dao của bà, của mẹ đã hát ru tôi thuở nhỏ.

Trời hôm nay là của ta.
Đất hôm nay là của ta.

Đi trên mảnh đất mà ông cha, đồng đội và cả thế hệ chúng tôi đã đổ máu để bảo vệ, trong lòng tôi dâng lên một niềm tự hào khó tả.

Những con đò hôm nay nhẹ mái buông chèo.

Cánh cò bay không mỏi.

Câu ca vút cao trong gió mới Trường Sơn.

Những mùa vàng bội thu đang báo tin vui trên mảnh đất ngàn đời chiến thắng ngoại xâm.

Dưới những cây cầu trên đường Hồ Chí Minh, dòng sông vẫn hiền hòa.

Những con thuyền chở đầy hàng hóa nhẹ nhàng xuôi dòng.

Một cảnh thanh bình giản dị mà sao đáng yêu đến thế!

Ôi, Tổ quốc ta sao đẹp thế!

Cây Cao su ở Thanh Hóa
                                                                 
 
Cánh đồng mía

4. NHỮNG LÀNG QUÊ ĐANG ĐỔI THAY

Hai bên đường là những cánh đồng, những thôn làng, những phum sóc nghèo khó ngày xưa.

Hôm nay, nhiều nơi đã trở thành những khu dân cư, những làng định cư đang từng ngày phát triển.

Cuộc sống đang đổi thay.

Đường sá tốt hơn.

Nhà cửa khang trang hơn.

Những vùng đất từng chịu đựng bom đạn nay đang trở thành những vùng quê yên bình.

Có lẽ đó chính là ý nghĩa đẹp nhất của hòa bình.

Chiến tranh đã đi qua.

Những con đường của chiến tranh hôm nay trở thành những con đường đưa cuộc sống đi lên.                                                    
 

Thuyền ăn hàng đầy ắp
 
.
Làng định cư 2  bên đường Hồ Chí Minh 

Làng định cư ngày nay,  dưới chân núi cạnh Đường Hồ Chí Minh (qua Quảng Trị)

5. VỀ NGHỆ AN – HÀNH TRÌNH ĐẾN ĐỀN CHỢ CỦI

Đoàn rẽ từ ngã ba Nông trường Nông Hiếu, thuộc địa phận tỉnh Nghệ An.

Từ đây, chúng tôi đi xuống Quốc lộ 1, theo đường tỉnh khoảng 30 km.

Xe đi qua huyện Diễn Châu rồi qua thành phố Vinh.

Khi còn là học sinh cấp II, tôi từng được biết thành phố Vinh được Cộng hòa Dân chủ Đức quy hoạch đô thị vào thời kỳ những năm 1965–1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt.

Ngày nay, cơ bản thành phố vẫn được xây dựng trên nền quy hoạch ấy.

Điều dễ nhận thấy là không gian khá rộng rãi, đường sá thoáng và có tầm nhìn tốt.

Qua cầu Bến Thủy, đi thêm khoảng 10–12 km, đoàn đến điểm dừng chân đầu tiên:

Đền Chợ Củi – nơi thờ Quan Hoàng Mười

Theo dân gian, Đền Chợ Củi là một nơi rất linh thiêng.

Đền có tên chữ là Khu Độc Linh Từ, được xây dựng vào cuối thời nhà Lê và là nơi thờ ông Hoàng Mười.

Đền nằm tại xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Vinh qua cầu Bến Thủy khoảng 10 km.

Đền tọa lạc trên núi Khu Độc, bên dòng sông Lam thơ mộng, tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng của vùng Nghi Xuân.

 
Cung thờ Quan Ông Hoàng Bẩy
                                                                    
Cung thờ Quan Ông Hoàng Mười

  6. SỰ TÍCH ÔNG HOÀNG MƯỜI

Trong tâm thức dân gian của người Hà Tĩnh – Xứ Nghệ, ông Hoàng Mười được xem là hiện thân của vị tướng Lê Khôi, một nhân vật gắn với nghĩa quân Lam Sơn.

Lê Khôi gọi Lê Lợi bằng chú và có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.

Ông từng làm quan qua ba đời vua Lê, giữ chức Khâm sai tiết chế thủy, lục chư dinh hộ vệ Thượng tướng quân.

Ông mất năm Bính Dần, 1446, và được an táng trên ngọn Long Ngâm của núi Nam Giới, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh.

Sau đó, ông được tấn phong Uy Mục Đại Vương, rồi Chiêu Trưng Đại Vương vào năm 1487.

Ở xứ Nghệ, dân gian còn đồng nhất ông Hoàng Mười với một nhân vật lịch sử khác là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ, từng làm Tri châu Nghệ An.

Những câu chuyện ấy hòa quyện giữa lịch sử và tín ngưỡng dân gian, tạo nên hình tượng ông Hoàng Mười rất đặc biệt trong đời sống tinh thần của người dân Xứ Nghệ.

 7. ĐỀN CỦI – NƠI SÔNG NÚI GIAO HÒA

Từ Quốc lộ 1, men theo chân núi Ngũ Mã khoảng 300 mét, rồi xuôi theo bờ sông thêm vài chục mét là đến Đền Củi.

Đây là nơi dãy Hồng Lĩnh như vươn mình xuống và dòng sông Lam uốn lượn phía trước.

Đền nằm trên núi Khu Độc thuộc Ngũ Mã, hướng về phương Bắc, tựa lưng vào núi và nhìn xuống Lam Giang.

Các tòa điện được xây cao dần theo thế núi, tạo nên dáng vẻ uy nghiêm, đường bệ giữa những hàng cây cổ thụ.

Trước đền là sông nước mênh mang.

Không gian kiến trúc hòa quyện với thiên nhiên, tạo nên cảm giác vừa huyền ảo vừa linh thiêng.

Qua nhiều lần tôn tạo, ngôi đền vẫn giữ được phần nào nét cổ kính, hài hòa với cảnh quan sông núi.

Tam quan của đền nằm liền bên sông, cao hai tầng, với những đường nét mềm mại và hình tượng đôi rồng chầu nguyệt.

Trên mặt trước tam quan có câu đối:

“Lam giang hiển hách tự thiên thu
Ngũ mã anh linh chung tú khí.”

Bên trong tam quan là hồ bán nguyệt ở sân thấp nhất.

Từ hồ đi qua bảy bậc thềm lên sân trên, rồi bước thêm năm bậc nữa mới tới khu đền chính.

Đền được xây theo kiểu chữ Tam, gồm ba tòa, mỗi tòa ba gian.

Các tòa liên kết với nhau thành một tổng thể thống nhất, được bố trí thành các cung thờ.

Từ ngoài vào là:

  • Cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu.
  • Cung Ngũ Vị Tôn Ông.
  • Cung Hoàng Mười.
  • Cung Chầu Mười.
  • Cung Trần Triều.

Tại cung thờ ông Hoàng Mười có hai bức đại tự:

“Mẫu Đức Chiếu Ảnh”

“Huyền Từ Bố Chứng”.

Cùng với đó là những câu đối ca ngợi sự linh thiêng của đền.

 8. MỘT CHỐN HÀNH HƯƠNG THANH TỊNH

Từ xưa đến nay, Đền Củi vẫn được người dân truyền tụng là nơi linh thiêng.

Khách thập phương tìm về đây quanh năm, đặc biệt từ những ngày đầu năm mới.

Không chỉ người Xứ Nghệ mà nhiều người từ khắp nơi cũng tìm đến để vãn cảnh, dâng hương và cầu nguyện.

Hội đền được tổ chức vào ngày 10 tháng 8 âm lịch.

Đứng giữa không gian núi non, sông nước và ngôi đền cổ, người hành hương có thể tìm thấy những phút giây thảnh thơi, tĩnh tại.

Tiếng văn chầu, không khí lễ hội và cảnh sắc thiên nhiên hòa vào nhau tạo nên một không gian rất riêng.

Tạm biệt Đền Củi, chúng tôi lại lên đường.

Điểm tiếp theo là Thanh Hóa.

                                                         
Cung Thờ Bà Chúa Liễu Hạnh Đền Sòng Thanh Hóa
                                                                             
 9. ĐỀN CÔ BƠ – TRUYỀN THUYẾT BÊN DÒNG SÔNG

Đoàn chuyển hướng ra thành phố Thanh Hóa, hướng về Đền Cô Bơ.

Theo truyền thuyết, Cô Bơ Thoải Cung vốn là con của Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công Chúa.

Có truyền thuyết lại kể rằng cô là con gái vua Long Vương, xinh đẹp và nết na, được Đức Vương Mẫu cho theo hầu cận trong cung.

Sau này, Cô Bơ giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng.

Tương truyền, Đức Thái Bà từng nằm mộng thấy một người con gái xinh đẹp, dáng ngọc, tóc mượt, mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập và dâng một viên minh châu.

Người con gái ấy nói mình là Thủy Cung Tiên Nữ, vâng lệnh xuống trần đầu thai để sau này giúp vua, giúp nước.

Sau giấc mộng ấy, Thái Bà thụ thai.

Đến ngày 8/2, giữa lúc trên trời mây xanh uốn lượn, nhạc từ Thủy Cung vang lên, bà sinh một người con gái có dung mạo đúng như người đã xuất hiện trong giấc mơ.

Gia đình tin rằng đây là một thần nữ giáng trần nên hết lòng nuôi dưỡng, dạy dỗ.

Cô lớn lên trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, giỏi văn thơ, đàn hát.


  Đền Cô Chín Sòng Sơn 

10. CÔ BƠ VÀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH

Khi cô vừa độ trăng tròn, đất nước lại rơi vào cảnh chiến tranh.

Cô cùng thân mẫu lánh về vùng Hà Trung, Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn.

Theo truyền thuyết, trong những năm đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lực lượng nghĩa quân còn yếu và thường xuyên bị quân Minh truy đuổi.

Một lần, Lê Lợi – có truyền thuyết nói là Lê Lai – bị quân địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn.

Tại đây, ông gặp Cô Bơ đang tỉa ngô.

Ông nhờ cô giúp đỡ.

Cô bảo ông lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống ruộng ngô.

Sau đó, cả hai cùng xuống ruộng, giả như đang tỉa ngô.

Quân Minh đuổi tới nơi, hỏi cô có thấy ai chạy qua không.

Cô trả lời rằng chỉ có cô và anh trai đang tỉa ngô.

Quân giặc không nghi ngờ và bỏ đi.

Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn rằng sau ngày đại thắng sẽ đón cô về triều, phong công và phong làm phi tử.

Nhưng Cô Bơ không chỉ giúp một lần.

Sau đó, cô còn bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông để chở quân sĩ qua sông, vận chuyển cả quân nhu, quân lương.

Theo truyền thuyết dân gian, công lao của cô trong cuộc kháng chiến chống quân Minh là không nhỏ. 


Khách hành hương lễ  đền 
 Hồ 11. MỘT LỜI HẸN KHÔNG THÀNH

Ngày khúc hát khải hoàn vang lên.

Đất nước chiến thắng.

Vua Lê nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung và sai quân đến đón.

Nhưng khi quân lính tìm đến nơi, cô đã mất từ bao giờ.

Các bô lão kể rằng cô đã một lòng chờ đợi, không chịu kết duyên với ai.

Cho đến khi qua đời, cô vẫn giữ lòng kiên trinh.

Dân gian tin rằng Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, giúp nước. Đến khi mãn hạn, cô được xe loan đón trở về Thủy Cung.

Sau khi hóa, cô tiếp tục được tin là hiển linh, giúp đỡ người dân vùng ngã ba sông và phù hộ cho thuyền bè đi lại thuận buồm xuôi gió.

Vì vậy, cô còn được gọi là Cô Bơ Bông hoặc Cô Bơ Thác Hàn.

Cung Thờ Cô Chín Đền Sòng Sơn
                                              
 12. ĐỀN CÔ BƠ – “TRÊN BẾN DƯỚI THUYỀN”

Theo quan niệm dân gian, Cô Bơ Bông là người hầu cận Mẫu Thoải.

Theo sự tích gắn với vùng Hà Trung, nơi quê nhà của cô nằm ở ngã ba Bông, bến Đò Lèn, nên đền thờ cô được lập tại đây, gần Đền Mẫu Thác Hàn.

Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày trước, đường vào đền khá khó khăn.

Ngày nay, đường đã được sửa thành đường bê tông nên việc đi lại thuận tiện hơn.

Từ cầu Lèn trên Quốc lộ 1, đi theo đường bê tông khoảng 15 km là đến đền.

Nơi đây có cảnh sắc đặc trưng của vùng sông nước:

“Trên bến, dưới thuyền.”

Một không gian vừa linh thiêng vừa thơ mộng.

Lễ trong Đền Bà Chúa Thác Bờ

Tượng Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát
                                                                    
 13. ĐỀN SÒNG SƠN – NƠI THỜ THÁNH MẪU LIỄU HẠNH

Khoảng 21 giờ, đoàn tiếp tục hành trình.

Chúng tôi đi ra thị xã Bỉm Sơn và đến Đền Sòng Sơn – nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh – cùng Đền Cô Chín Giếng, nơi thờ một tiên nữ theo hầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Ngày xưa, Đền Sòng thuộc trang Cổ Đam, Phú Dương, phủ Tống, Thanh Hóa.

Ngày nay, đền thuộc phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Theo sử liệu, Đền Sòng còn gọi là Đền Sùng Sơn, được dựng vào thời Cảnh Hưng triều Lê Hiến Tông.

Đây được xem là một trong những nơi gắn với truyền thuyết Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng trần.

Đặc biệt, trong một lần trùng tu vào tháng 4/1939, khi đào đất xây dựng bình phong trước cửa chính, người ta tìm thấy một chiếc tráp đồng hình chữ nhật.

Bên trong có một cuốn sách gồm nhiều tờ bằng đồng, ghi niên hiệu Vĩnh Tộ đời Lê Thần Tông và chép lại lịch sử gia đình nữ thần Vân Hương, tức Liễu Hạnh.

 14. THÁNH MẪU LIỄU HẠNH – MỘT HÌNH TƯỢNG ĐẶC BIỆT

Theo truyền thuyết, Liễu Hạnh tiên nữ giáng trần ba lần.

Lần thứ nhất tại làng An Thái, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, vào năm Thiên Hựu đời vua Lê Anh Tông.

Sau 21 năm ở trần gian, nàng trở về trời.

Lần thứ hai, nàng lại giáng trần tại vùng đất cũ.

Lần thứ ba, nàng cùng hai thị nữ Quế Nương và Thị Nương giáng trần tại Phố Cát, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa, vào thời vua Lê Huyền Tông.

Sau đó, nàng hiển thánh tại Sùng Sơn.

Theo “Truyền kỳ Tân Phả” của Đoàn Thị Điểm, Liễu Hạnh có tên tuổi và quê quán rõ ràng.

Điều đặc biệt là hình tượng Liễu Hạnh trong văn hóa dân gian không chỉ là một vị tiên.

Nàng được hình dung như một người phụ nữ rất gần gũi với cuộc sống trần gian.

Là người con gái nết na, đoan trang, phúc hậu.

Là người vợ thủy chung.

Là người mẹ yêu thương con hết mực.

Nhưng khi trở thành tiên chúa, Liễu Hạnh lại vượt lên những ràng buộc của lễ giáo phong kiến.

Nàng có cá tính mạnh mẽ.

Nàng đi mây về gió, giao du rộng rãi, mở quán bán hàng, xướng họa cùng các tao nhân mặc khách.

Những câu chuyện về cuộc gặp gỡ với Phùng Khắc Khoan và các tao nhân ở Hồ Tây càng làm cho hình tượng Liễu Hạnh trở nên sống động trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Đền Thượng Lào Cai
 
    15. ĐỀN SÒNG – NƠI SÔNG NƯỚC VÀ TÍN NGƯỠNG GIAO HÒA

Đền Sòng quay mặt về hướng Tây Bắc.

Phía trước đền là một hồ nước tự nhiên hình bán nguyệt, thường được gọi là Hồ Cá Thần.

Theo truyền thuyết, vào khoảng tháng Giêng, tháng Hai, một đàn cá có thân màu đỏ thường kéo về bơi trong hồ.

Khi lễ hội kết thúc, đàn cá lại biến mất.

Người dân quanh vùng kể rằng đó là những nàng tiên trên thượng giới hóa phép về hầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Hồ Cá Thần có hai con suối nhỏ uốn lượn quanh, khiến ngôi đền giống như đang ngự trên một hòn đảo nhỏ.

Phía trước đền có một cây cầu đá do Bà Hoàng Thái hậu nhà Lê phát tâm công quả xây dựng năm thứ 33 triều Cảnh Hưng, tức năm 1772.

Hai dòng suối uốn khúc về phía Đông rồi hợp lưu với chín dòng nước từ lòng đất tạo thành Chín Giếng, những giếng nước tự nhiên được truyền tụng là không bao giờ cạn.

 16. ĐỀN CÔ CHÍN GIẾNG

Cách Đền Sòng khoảng 1 km về phía Đông là Đền Cô Chín Giếng.

Tại nơi có chín giếng nước tự nhiên, người dân dựng đền để thờ Cô Chín – một tiên nữ được truyền thuyết kể là theo hầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Du khách sau khi vãn cảnh Đền Sòng thường tiếp tục đến đây dâng hương.

Hai ngôi đền vì thế tạo thành một hành trình tâm linh liền mạch.

 17. BÊN TRONG ĐỀN SÒNG

Bước qua cổng tam quan, điều đầu tiên du khách bắt gặp là tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát.

Tiếp đó là cung Đệ Tam, nơi thờ Hội đồng Thánh Quan cùng các ông Hoàng và các Cô đệ tử.

Nổi bật là ông Hoàng Bơ, ông Hoàng Bảy.

Tại đây cũng phối thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo Vương.

Qua cung Đệ Nhị là cung Đệ Nhất.

Không gian nơi đây thâm nghiêm và thường chỉ mở cửa vào những dịp lễ rước Thánh Mẫu hằng năm trong tháng Hai âm lịch.

Gian chính thờ Thánh Mẫu trong trang phục màu đỏ lộng lẫy, dáng ngồi uy nghi nhưng khoan dung.

Hai bên là hai đệ tử thân tín Quế Nương và Nhị Nương – những người được truyền thuyết kể là đã cùng Liễu Hạnh giáng trần.

Hai gian bên thờ Mẫu Thoải – thần nước – và Mẫu Thượng Ngàn – thần núi rừng.

Trên các cột và xà ngang của đền là nhiều cuốn thư, hoành phi, câu đối ca ngợi công đức và sự linh thiêng của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

 18. ĐÊM Ở BỈM SƠN

Đêm hôm ấy, đoàn nghỉ tại thị xã Bỉm Sơn.

Một ngày dài khép lại.

Từ Hà Nội, chúng tôi đã đi qua những vùng đất gắn với lịch sử, chiến tranh, tín ngưỡng và đời sống văn hóa của người Việt.

Nhưng hành trình vẫn chưa kết thúc.

Sáng hôm sau, ngày 1/5/2011, đoàn lại lên đường.                                                                      

Cổng đền Thượng Lào Cai

19. TỪ BỈM SƠN ĐẾN THUNG NAI

Từ thị xã Bỉm Sơn, đoàn đi theo tuyến Bỉm Sơn – thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành.

Sau đó đi tiếp qua xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành để trở lại đường Hồ Chí Minh.

Từ đây, chúng tôi tiếp tục hành trình qua đường Mãn Đức, theo Quốc lộ 6, vượt dốc Cun rồi đi vào khu vực Thung Nai.

Điểm đến tiếp theo là Hồ Thung Nai và Đền Bà Chúa Thác Bờ.

Theo tuyến du lịch, từ Hà Nội đi theo Quốc lộ 6 đến tỉnh Hòa Bình.

Sau khi tham quan khu vực thủy điện sông Đà, đi tiếp khoảng 5 km rồi rời Quốc lộ 6, rẽ vào một con đường chạy vòng quanh các sườn núi.

Đến bến Thung Nai, du khách xuống thuyền để bắt đầu hành trình trên hồ.

Trên đảo từng có chợ nổi Thác Bờ, thường diễn ra vào sáng Chủ nhật hằng tuần.


Cổng đền Hạ Lào Cai

 20. THUNG NAI – MỘT VÙNG HỒ GIỮA NÚI RỪNG

Cách Hà Nội khoảng 100 km về phía Tây Bắc, Thung Nai từ lâu đã trở thành một điểm đến được nhiều du khách yêu thích khi lên Hòa Bình.

Thung Nai là một xã nằm trong vùng lòng hồ sông Đà.

Ngồi trên thuyền, nhìn mặt hồ rộng mênh mông, núi non bao quanh, tôi lại nhớ về câu chuyện của vùng đất này.

Trên hồ có hai ngôi đền thờ hai người phụ nữ được truyền tụng là đã có công giúp vua Lê Lợi.

Một người là bà Đinh Thị Vân, người Mường ở Hào Tráng.

Người kia là một phụ nữ người Dao ở Vầy Nưa.

Theo truyền thuyết, hai bà đã giúp vua Lê Lợi về quân lương và thuyền bè trong cuộc chiến chống Đèo Cát Hãn năm 1431.

Ngoài các đền, vùng hồ còn có những hang động đẹp.

 21. TRÊN MẶT HỒ – NHÌN LẠI MỘT VÙNG ĐẤT

Ngồi trên thuyền giữa Hồ Thung Nai, tôi chợt nghĩ về sự đổi thay của thiên nhiên và con người.

Trước khi có thủy điện Hòa Bình, nơi đây là vùng rừng núi rậm rạp.

Những đàn nai thường xuống ăn cỏ, uống nước, và cái tên Thung Nai cũng gắn với hình ảnh ấy.

Ngày nay, sau khi Nhà máy thủy điện Hòa Bình được xây dựng, nơi đây trở thành một vùng hồ tích nước rộng lớn.

Mặt nước mênh mông trải ra giữa núi rừng.

Những hòn đảo nhấp nhô trên mặt hồ.

Những con thuyền đưa khách đi giữa cảnh sắc thanh bình.

Vùng lòng hồ hôm nay không chỉ có giá trị về thủy điện mà còn trở thành một điểm du lịch nổi tiếng, đồng thời là nơi người dân phát triển nghề nuôi cá.

Một vùng đất đã thay đổi.

Một dòng sông đã thay đổi.

Một cuộc đời cũng đã thay đổi.

                                                                          
Thư dãn bên quán Cape ở  Thành phố Lào Cai-Hạnh phúc cuộc đời 

Đi lễ Đền
       
  22. KHÉP LẠI HÀNH TRÌNH

Chuyến đi 30/4 – 1/5/2011 đối với tôi không đơn thuần là một chuyến du lịch.

Đó là một hành trình trở về.

Trở về với những năm tháng chiến tranh.

Trở về với con đường Trường Sơn huyền thoại.

Trở về với những miền quê đã từng chịu đựng bom đạn nhưng hôm nay đang hồi sinh.

Trở về với những ngôi đền, những truyền thuyết và đời sống tâm linh đã tồn tại qua nhiều thế hệ.

Và trên hết, đó là hành trình để tôi nhìn lại chính mình sau 36 năm.

Ba mươi sáu năm kể từ ngày đất nước thống nhất.

Ba mươi sáu năm kể từ những năm tháng tuổi trẻ.

Thời gian đã đưa chúng ta đi rất xa.

Những con đường năm xưa nay đã rộng mở.

Những vùng đất từng chìm trong khói lửa nay đã có những cánh đồng xanh, những làng quê bình yên, những con thuyền đầy hàng hóa xuôi dòng.

Đứng giữa thiên nhiên hôm nay, tôi càng thấm thía giá trị của hòa bình.

Có những điều chỉ khi đi qua một chặng đường rất dài của cuộc đời, con người mới thực sự cảm nhận được.

Đó là sự bình yên.

Là niềm tự hào.

Là lòng biết ơn đối với những người đã nằm lại trên những con đường mà hôm nay chúng ta đang đi.

Và cũng là tình yêu đối với đất nước – một tình yêu đôi khi rất giản dị:

Một con đường đẹp.

Một dòng sông.

Một cánh đồng.

Một cánh cò.

Một mái chèo nhẹ trên mặt nước.

Một câu hát vọng lên giữa trời xanh.

Đất nước hôm nay là của chúng ta.

Và nhìn lại hành trình 36 năm, tôi thấy lòng mình thanh thản.

Bởi những gì đã đi qua không mất đi.

Nó nằm lại trong ký ức, trong những con đường, trong những vùng đất và trong chính cuộc đời mỗi con người.                          
Cảnh 2 bên đường mòn Hồ Chí Minh nay là đường Hồ Chí Minh, bản làng giờ đây đang ngày càng đổi mới và rất đẹp
Cảnh một góc Thị xã Bỉm Sơn Hôm nay (36 năm trước nơi đây bị bom Mỹ tàn phá nặng nề) đang thay da đổi thịt
Cung thờ Cô Chín-Đền Sòng Thanh Hóa
Cá vàng trong hồ

(Ngô Lê Lợi -30/4/2011.Một chuyến đi – một hành trình trở về.
36 năm – một chặng đường của đất nước và của đời người)

            

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét