ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Con đường Bản Máy và Bát rượu nghĩa tình năm 1989


 ( Ảnh: Đoàn ở Hồ Tây, Hà Nội năm 1995)

    Lời đầu: Khi bản thảo Hồi kí viết xong, tác giả đã gửi cho anh Nguyễ Hữu Chí;  nguyên là Phó Chủ tich, Chủ tịch UBND huyện Hoàng Su Phì để nhờ anh góp ý : “Ngày 27/9/2026. Hay Lắm Anh Lợi. Đọc Hồi Ký về tuyến đường Bản Máy của anh tôi thật sự súc động. Tuy tuổi chưa cao, nhưng sức khoẻ kém nên tôi không còn được minh mẫn, sáng suốt như anh. Hỏi tôi về những chi tiết nhỏ như ngày, tháng, năm … Tôi thật sự không còn nhớ chính sác. Nhưng ký ức trong tôi thì vẫn còn nguyên.

Đúng là tôi được giao nhiệm vụ tháp tùng đoàn cán bộ cấp cao đi khảo sát tình hình biên giới. Lý do ngày ấy thật đơn giản: Bí thư Huyện uỷ nói: Cậu là người trẻ nhất trong số lãnh đạo huyện, cậu đi theo đoàn là đúng rồi. Từ trung tâm huyện tôi mang theo 1 nắm cơm rất to, ½ con gà luộc, muối, nước uống. Tất cả cho vào ba lô đeo sau lưng và hành trình đi bộ: Từ trung tâm huyện đến Bản Máy. Qua đất Chiến Phố đến Đồi Dài, tôi mời anh Mạnh và các anh dừng chân nghỉ ăn trưa. Mọi người đồng ý tất cả trú vào vườn sắn của dân để tránh nắng. Tôi lấy cơm nắm, thức ăn, nước uống mời các anh. Nhưng vì đi bộ, leo dốc một chặng đường dài, mệt nên mọi người chỉ uống nước, nằm dài trên thảm cỏ trong vườn sắn nghỉ ngơi. Anh Mạnh có nói với tôi: “Trong cuộc đời công tác, trải qua nhiều khó khăn vất vả, nhưng đây là lần đầu tớ đi bộ xa như thế này”. Tất nhiên rồi Tôi là chuyên gia quốc bộ còn mệt, huống chi các anh. Thương các anh nhiều nhưng không thể làm gì. Thế rồi chiều tối chúng tôi cũng đến đích. Đồn biên Phòng Bản Máy, chúng tôi ăn tối và qua đêm tại đây”.

Bút ký của Ngô Lê Lợi
Nguyên Trưởng phòng Giao thông - Xây dựng huyện Hoàng Su Phì

Có những chuyện xảy ra trong cuộc đời công tác tưởng như rất bình thường, vậy mà càng về sau càng thấy đáng nhớ.

Có những cuộc gặp chỉ kéo dài một bữa cơm, một cái bắt tay, một bát rượu, nhưng nhiều năm sau ngoảnh lại, mới thấy nó gắn với cả một chặng đường.

Với tôi, câu chuyện về con đường vào Bản Máy là như vậy.

Đó là câu chuyện của một con đường giữa núi rừng Hà Giang, của những năm tháng đất nước còn rất khó khăn, của những người lính biên phòng sống giữa gian khổ, và của một cuộc gặp mà mãi năm năm sau tôi mới biết người đã ngồi ăn cơm, uống rượu với mình hôm ấy là ai.

Điều tôi nhớ nhất không phải chức vụ, cũng không phải những lời lẽ lớn lao.

Tôi nhớ một người đàn ông nhỏ nhắn, mặc quần áo đồng bào, một cái bắt tay rất ấm và một câu nói ngắn gọn: “Nhất trí nhé.”

Và tôi nhớ mãi một bát rượu.

 1. Từ hậu cứ Nam Sơn trở về huyện lị Hoàng Su phì.

Năm 1988, huyện Hoàng Su Phì vẫn còn đóng ở khu vực hậu cứ Nam Sơn. Đến tháng 11 năm ấy, huyện bắt đầu chuyển trở lại huyện lỵ.

Lúc đó tôi đang công tác ở Phòng Giao thông - Xây dựng huyện.

Công việc chuyển huyện lỵ trở về rất vất vả. Đường sá khó khăn, phương tiện thiếu thốn. Tôi được UBND huyện  giao hợp đồng với Sở Giao thông vận tải Hà Tuyên sử dụng khoảng 100 chuyến xe ZIL-130 để vận chuyển các cơ quan, vật tư, đồ đạc về huyện lỵ.

Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1988, công việc vận chuyển đã cơ bản hoàn thành được khoảng 80%. Nhưng sang năm 1989, vẫn còn  cơ quan vẫn tiếp tục chuyển dần về, nên sáng chiều vẫn vào ra hậu cứ kiểm tra các cơ quan chuyển về huyện.

Cùng lúc đó, công việc của Phòng Giao thông - Xây dựng vẫn phải làm. Ngoài sửa chữa tuyến tỉnh lộ, chúng tôi còn phải lo mở đường dân sinh, phục vụ đi lại, sản xuất và đời sống của đồng bào các xã vùng cao.

Những năm ấy, Hoàng Su Phì nghèo và khó khăn lắm.

Cả huyện lúc đó chỉ có khoảng 60 km tỉnh lộ 177. Đường vào các xã phần lớn là đường đất, đường dân sinh, mùa mưa đi lại rất khó khăn.

Trong thời kỳ chiến tranh, huyện đã mở một số tuyến đường phục vụ yêu cầu trước mắt.

Một tuyến từ Km 5 đi Tân Tiến dài khoảng 5,5 km.

Một tuyến khác từ Vinh Quang  dài khoảng 19 km đi qua Tụ Nhân, Chiến Phố lên gần chân Đồi Dài.

Con đường 19 km ấy chủ yếu là đường đất, nền đường rộng khoảng 3,5 đến 5 mét. Tuyến đường được mở từ mùa khô năm 1984 phục vụ chủ yếu hậu cần cho quân đội và hàng thiết yếu phục vụ Nhân dân biên giới. Đường đi được mùa khô.

 Nhưng đường đất vùng cao thì nhanh xuống cấp.

Có những đoạn xe đi được một mùa, sang mùa mưa lại hỏng.

Từ Đồi Dài đi tiếp vào Bản Máy lúc đó vẫn chưa có đường ô tô. Chỉ có đường dân sinh, đường mòn của đồng bào làm nương, rẫy.

Mỗi lần nghĩ đến việc đưa xe vào những nơi ấy, chúng tôi đều thấy trước mắt mình là cả một bài toán rất khó.

Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, ý nghĩ phải có một con đường vào Bản Máy đã hình thành trong tôi.

Tôi nghĩ đơn giản thôi: nếu sau này đất nước hòa bình, đời sống khá lên, nhất định phải làm được con đường này.

 2. Một chuyên đi cuối tháng 11 năm 1989.

Cuối tháng 11 năm 1989, Bí thư Huyện ủy Hoàng Minh Nhất gọi tôi lên phòng làm việc tại khu nhà Huyện ủy tạm trên đồi cao (trước là huyện ủy cũ khi sơ tán vào Nam Sơn đã tháo dỡ để chuyển vào hậu cứ hết).

Anh cử  tôi đi công tác kiểm tra tuyến đường từ dốc Huyện đội lên Đồi Dài và ở đại đội 1 thuộc D6 chờ nhiệm vụ tiếp.

“Mãi đến bây giờ tôi mới biết cụ thể chuyến thăm thị sát Bản Máy của đoàn cán bộ Trung ương năm xưa: Chuyến đi thực tế cuối tháng 11/1989 đến xã biên giới Bản Máy (huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Tuyên cũ) diễn ra ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 về chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội miền núi. Ở thời điểm đó, ông Nông Đức Mạnh vừa đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Dân tộc Trung ương. Đoàn công tác có 4 ủy viên Trung ương Đảng.

Dựa trên thông tin lịch sử của thời kỳ đó, chân dung của 3 vị Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (BCHTW) đi cùng đoàn gồm có: Ông Nguyễn Văn Đức : Ủy viên BCHTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tuyên (giai đoạn 1986 – 1991) người trực tiếp tháp tùng đoàn lãnh đạo Trung ương đi sát sao địa bàn biên giới trọng điểm của tỉnh  lúc bấy giờ. Ủy viên BCHTW phụ trách An ninh – Quốc phòng của Quốc hội  nhằm khảo sát an ninh phên dậu Tổ quốc. Ủy viên BCHTW phụ trách Quân khu 2.

Thời điểm năm 1989, tình hình biên giới phía Bắc (đặc biệt là mặt trận vị trí dọc Hà Tuyên như Vị Xuyên, Hoàng Su Phì) cực kỳ trọng yếu.

Chuyến đi đến một xã vùng cao hẻo lánh, đặc biệt khó khăn như Bản Máy của bốn vị Ủy viên Trung ương Đảng vào cuối năm 1989 mang ý nghĩa chiến lược: vừa trực tiếp đưa Nghị quyết 22 của Đảng vào cuộc sống, vừa kiểm tra công tác củng cố tuyến phòng thủ biên giới, đồng thời nắm bắt tâm tư, chăm lo đời sống an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây ”

Lúc ấy tôi khoảng 34 tuổi, còn trẻ, công việc thì nhiều, đi đâu cũng quen với đường núi và những chuyến đi gian khổ.

Nhưng lần này được Bí thư Hoàng Minh  Nhất dặn rất kỹ: “Nếu được bố trí  gặp đoàn cán bộ Trung ương, nếu được mời ăn cơm thì phải giữ ý, tuyệt đối không được uống say”.

Tôi hiểu ý anh.

Ngày ấy, lên vùng cao, khách quý đến nhà hay đến đơn vị, chuyện mời nhau chén rượu là rất tự nhiên. Rượu không chỉ để uống mà còn là cách đồng bào thể hiện tình cảm, sự quý trọng đối với khách.

Nhưng tôi được dặn trước, nên trong đầu đã xác định là chỉ uống xã giao.

Khoảng hơn 13 giờ, tôi được một chiếc U-oát của Huyện đội đưa lên phía Đồi Dài.

Đường trơn, lầy lội. Chiếc xe đi được một đoạn thì không thể đi tiếp. Xe lại đang bị hỏng một cầu nên càng khó vượt qua đường núi.

Tôi xuống xe và đi bộ.

Gần một giờ sau mới đến được C1.

C1 lúc ấy là một điểm đóng chốt ở mỏm đồi Dài; đây là cứ. Tôi gặp anh Toàn, Đại phó. Từ đây đi khoảng 700 m đến 1 km là chốt chính ở  mỏm đồi cụt .

Tôi hỏi tình hình thì được biết một đồng chí Phó Chủ tịch huyện là anh Nguyễn Hữu Chí đã đi vào Bản Máy để kiểm tra công việc.

Tôi ở lại C1 chờ chỉ thị.

Chỗ nghỉ của anh em lúc ấy rất đơn sơ. Một căn hầm nửa chìm nửa nổi, mái chỉ nhô lên khỏi mặt đất một chút, bên trên lợp tranh và phủ giấy dầu.

Trong phòng chỉ có hai chiếc giường.

Một chiếc của anh Toàn, một chiếc dành cho tôi.

Tối hôm ấy, anh Toàn làm thịt một con gà.

Tôi nhớ lời dặn nên không uống rượu.

Sáng hôm sau, bữa sáng là cơm với thịt hộp. Bữa trưa có món thịt xào mặn.

Những bữa ăn như thế bây giờ nghĩ lại thấy rất đỗi bình thường, nhưng trong hoàn cảnh năm ấy, đó là những bữa ăn của tình đồng đội, tình đồng chí giữa những người sống và làm việc ở nơi núi rừng xa xôi.

Khoảng 14 giờ hôm sau, anh Toàn bảo tôi vào Bản Máy.

Trước khi đi, anh bảo tôi thay quần áo.

Không mặc quần áo cán bộ nữa mà mặc bộ quần áo Tà phủ của đồng bào địa phương.

Anh còn cho tôi mượn một chiếc túi truyền thống để đeo.

Tôi hơi bất ngờ nhưng cũng làm theo.

Đoàn đi gồm một tổ trinh sát đi phía  trước khoảng ba, bốn người, phía sau cũng có vài người. Mọi người đều mặc quần áo đồng bào.

Khoảng cách giữa các nhóm chừng hơn một trăm mét để vừa bảo đảm an toàn, vừa giữ bí mật trong điều kiện vùng biên giới lúc đó.

Chúng tôi đi bộ.

Từ C1 vào Bản Máy phải đi qua những con đường núi, dốc và trơn trượt.

Đi khoảng 7-8 km thì tới khu vực cầu treo Suối Đỏ.

Tại cầu Suối Đỏ ngày xưa (nằm trên tuyến đường độc nhất nối từ trung tâm huyện Hoàng Su Phì qua xã Tụ Nhân, xã Chiến Phố để vào xã Bản Máy).  

 Chọn chỗ  này làm cầu  năm 1984, vì là nơi hẹp nhất phù hợp vật tư vật liệu lúc bấy giờ;  đoạn suối hẹp nhất rộng 40 m. Phòng giao thông xây dựng đã khảo sát đặt cầu và  cùng Nhân dân xã Bản Máy đã xây dưng xong hố neo hai bờ không kéo cáp làm cầu được (do bên kia thường  tung thám báo phá hoại hố neo và bắt dân sang bên kia, nên đến tháng 5/1988 mới tiếp tục thi công hoàn thành cầu treo này).

(Ảnh minh họa : Cầu treo dân sinh )

Vị trí thiên nhiên này : Hố neo cáp bên Chiến phố là thôn Mỏ Phìn, còn hố neo cáp phía Bản Máy thuộc cụm dân cư Hoa Sì Pan.

Cầu  nằm tại khe suối Đỏ, khu vực thượng nguồn suối Đỏ — dòng suối ngoằn ngoèo chảy dọc và phân chia ranh giới tự nhiên trong vùng.

Cây cầu này đóng vai trò là điểm nút giao thông quan trọng  trong thời kì chiến tranh bảo việ biên giới Bản Máy và cũng là lối rẽ ngã ba đặc trưng để  di chuyển tiếp lên xã Bản Phùng (rẽ trái sau khi qua cầu) hoặc đi thẳng để tiến sâu vào xã Bản Máy.

Tại đây chúng tôi gặp khoảng năm, sáu cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bản Máy.

Anh em bộ đội đưa  tôi tiếp tục đi sâu vào đất thuộc khu Hoa Si Pan.

Sau hơn hai  cây số, chúng tôi đến một  cái chuồng ngựa của đồng bào La Chí.

Hai chiến sĩ ở lại đó với tôi.

Tôi được bố trí nghỉ tạm tại đây.

 3.Bữa cơm trong đêm gió lạnh.

Khoảng 19 giờ. Trời đã tối.

Gió từ khe suối thổi lên lạnh buốt.

Một đồng chí trong đơn vị đến mời tôi về đồn ăn cơm.

Hai chiến sĩ vẫn ở lại chuồng ngựa làm nhiệm vụ canh gác.

Tôi đi theo anh em về đồn.

Khu đồn nằm dưới chân núi Hoa Sì Pan, gồm những dãy lán thấp. Nhà làm chìm dưới đất, mái lợp tranh và giấy dầu.

Bếp của đồn lúc ấy có khoảng năm, sáu người đang chờ ăn.

Hôm đó đơn vị làm thịt một con dê.

Trong hoàn cảnh vùng biên giới ngày ấy, một bữa cơm như vậy có thể coi là khá tươm tất.

Mọi người vừa ngồi vào mâm thì có một chiến sĩ gọi:

“Anh Lợi, lên nhà chỉ huy.”

Tôi đi theo.

Căn nhà chỉ huy khi ấy cũng rất đơn sơ. Nhà thấp, tựa lưng vào núi. Xung quanh còn có những căn lán, hầm trú ẩn và các công trình phục vụ nhiệm vụ biên phòng.

Trong nhà có một chiếc bàn dài.

Mọi người ngồi hai bên, mỗi bên khoảng bốn, năm người.

Đối diện cửa ra vào là một người đàn ông mà lúc ấy tôi hoàn toàn không biết là ai.

Ông mặc quần áo của đồng bào.

Dáng người nhỏ nhắn.

Nếu chỉ nhìn qua, tôi không nghĩ đó là một cán bộ Trung ương.

Tôi được xếp ngồi cạnh ông.

Đồng chí chỉ huy đồn ngồi đối diện.

Rồi anh em mang ra một chiếc bát Chiết yêu.

Đó là loại bát có miệng loe, thân thu nhỏ dần xuống đáy, kiểu bát thường thấy trong đời sống của đồng bào vùng cao.

Mọi người bắt đầu ăn.

Người đàn ông ngồi cạnh tôi hỏi chuyện.

Ông hỏi về công việc, về đường sá, về tình hình địa phương.

Tôi trả lời những gì mình biết.

Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đây là một cán bộ đi cùng đoàn công tác.

Tôi không biết tên.

Không biết chức vụ.

Cũng không hề nghĩ rằng cuộc gặp ngắn ngủi ấy sau này lại trở thành một kỷ niệm đặc biệt trong cuộc đời công tác của mình.

Có một chi tiết đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ.

Khi bắt tay ông, tôi thấy bàn tay ông rất ấm.

Giữa cái lạnh của núi rừng Bản Máy, trong căn nhà đơn sơ tựa lưng vào núi, cái bắt tay ấy khiến tôi có một cảm giác rất gần gũi.

Một người mặc quần áo đồng bào, dáng người nhỏ nhắn, nói chuyện giản dị.

Tôi không hề biết mình đang ngồi cạnh ai.

4. “Sau này nếu đất nước hòa bình….”

Trong bữa cơm hôm ấy, câu chuyện chuyển sang việc đường sá và cuộc sống của người dân.

Người đàn ông ấy hỏi tôi:

“Sau này nếu đất nước hòa bình thì chú có đề đạt gì không?”

Tôi suy nghĩ một lát rồi nói thật những điều mình đang nghĩ.

Tôi nói rằng tôi về Hoàng Su Phì công tác trong lúc đất nước vẫn còn chiến tranh, huyện còn rất nghèo và đường sá vô cùng khó khăn.

Cả huyện chỉ có khoảng 60 km tỉnh lộ 177.

Huyện đã mở được tuyến Km 5 - Tân Tiến khoảng 5,5 km và tuyến đường khoảng 19 km qua Tụ Nhân, Chiến Phố lên Đồi Dài.

Ngoài ra còn có hàng trăm ki-lô-mét đường dân sinh phục vụ đồng bào.

Nhưng từ Đồi Dài vào Bản Máy thì chưa có đường ô tô.

Tôi nói:

“Nếu sau này đất nước hòa bình, tôi chỉ mong có điều kiện xin được đầu tư làm con đường từ huyện lỵ vào đến đây. Khoảng hơn 30 km, chừng 34 km. Con đường ấy sẽ phục vụ bà con Tụ Nhân, Chiến Phố, Bản Máy, đồng thời giúp anh em bộ đội biên phòng đỡ vất vả hơn.”

Tôi nói bằng suy nghĩ của một người làm giao thông ở huyện.

Không có ý nghĩ gì lớn lao.

Chỉ nghĩ rằng có đường thì dân bớt khổ.

Có đường thì hàng hóa vào được.

Có đường thì cán bộ, bộ đội đi lại thuận lợi.

Có đường thì vùng biên giới sẽ gần hơn với miền xuôi.

Người đàn ông ấy im lặng một lúc.

Rồi ông nắm tay tôi và nói:

“Nhất trí nhé.”

Chỉ hai tiếng ấy thôi.

Nhưng với tôi, nó ở lại trong ký ức suốt nhiều năm.

Sau đó, ông mời tôi uống một bát rượu.

Tôi nhớ lời anh Nhất dặn, nhưng trong một bữa cơm như thế, từ chối hoàn toàn thì cũng không tiện.

Tôi nâng bát rượu.

Có người nói với tôi:

“Anh mời anh ấy đi.”

Tôi quay sang mời.

Ông cũng uống.

Tôi uống.

Một bát rượu trong một đêm lạnh ở vùng biên giới.

Không ai lúc đó biết rằng nhiều năm sau, tôi sẽ nhớ đến bát rượu ấy như một dấu mốc trong câu chuyện về con đường Bản Máy.

 5. Sáu năm sau tôi mới biết người đó là ai?

Sau chuyến đi ấy, tôi trở lại công việc thường ngày.

Cuộc sống cứ thế trôi đi.

Tôi vẫn làm công tác giao thông, vẫn đi kiểm tra đường sá, vẫn lo sửa chữa và mở những tuyến đường phục vụ dân sinh.

Tôi không nghĩ nhiều về người đàn ông mặc quần áo đồng bào hôm ấy.

Bởi tôi thậm chí còn không biết tên ông.

Mãi đến năm 1994, khi huyện xây dựng kế hoạch giao thông và tỉnh đã đồng ý chủ trương ưu tiên tuyến Hoàng Su Phì – Bản Máy, câu chuyện cũ mới trở lại.

Tuyến đường được xác định có ý nghĩa phục vụ các xã Tụ Nhân, Chiến Phố, Bản Máy, Đồn Biên phòng Bản Máy và một số vị trí quân sự trong khu vực, trong đó có khu vực Mào Gà 1660.

Tất cả các khâu chuẩn bị từ khảo sát đến hồ sơ thi công tỉnh Hà Giang đã phê duyệt. Phần kế hoạch huy động dân công công ích của huyện đã có phương án , lệnh huy động dân công đã sẵn sàng. Nhưng cái khó và quyết định là vật liệu nổ và các vách đá cao thì Nhân dân làm rất khó khăn và có thể xẩy ra tai nạn , vì huy động Nhân dân chỉ làm các phần việc chân tay còn thi công vách đá yêu cầu công nhân kĩ thuật khoan đá nổ mìn? Sau nhiều trăn trở làm thế nào có nguồn kinh phí để mua vật liệu nổ và nhân công kĩ thuật.

Lúc ấy, Bí thư Huyện ủy là anh Vướng Phát Hữu.

Một hôm anh hỏi tôi: “Chú năm 1989 gặp anh Mạnh nói cái gì, nhớ không?”

Tôi ngạc nhiên.

Tôi nói:

“Em có gặp anh Mạnh bao giờ đâu?”

Anh Hữu nhìn tôi rồi nói:

“Người chú gặp ở Bản Máy năm ấy chính là anh Nông Đức Mạnh.”

Tôi sững người.

Hóa ra người đàn ông nhỏ nhắn, mặc quần áo đồng bào, ngồi ăn cơm cạnh tôi sáu năm trước chính là ông Nông Đức Mạnh.

Lúc đó tôi mới nhớ lại từng chi tiết.

Bộ quần áo đồng bào.

Dáng người nhỏ.

Cái bắt tay rất ấm.

Câu hỏi về tương lai.

Câu “Nhất trí nhé”.

Và bát rượu hôm ấy.

Tất cả bỗng nhiên trở lại rất rõ.

Anh Hữu hỏi tôi:

“Chú có dám lên Hà Nội gặp anh Mạnh để xin tiền làm đường không?”

Tôi nói:

“Nếu tỉnh đồng ý thì em đi.”

Tôi đề nghị trước hết phải xin ý kiến Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Thừa. Nếu tỉnh thống nhất thì tôi sẵn sàng đi.

Bởi tôi hiểu, chuyện xin vốn làm một con đường lớn không thể chỉ dựa vào một câu chuyện cá nhân.

Nhưng tôi cũng nghĩ đến lời nói năm nào.“Nhất trí nhé.”

 6.Hà Nội, một cuộc gặp mặt sau sáu năm.

Được tỉnh đồng ý, trước mùa mưa năm 1995, chúng tôi lên đường ra Hà Nội.

Đoàn gồm bốn người:

Anh Vướng Phát Hữu – Bí thư Huyện ủy.

Tôi – Trưởng phòng Giao thông – Xây dựng.

Anh Nguyễn Văn Ngọc.

Và anh Đỗ Duy Hường, lái xe Huyện ủy.

Đường từ Hoàng Su Phì về Hà Nội khi ấy cũng không dễ đi.

Khoảng 13 giờ, chúng tôi đến Hà Nội nhưng chưa kịp ăn uống gì.

Mấy anh em tìm mãi không có chỗ ăn phù hợp, cuối cùng vào khu vực Hồ Tây ăn bánh tôm.

Đến hơn 15 giờ, chúng tôi mới tìm đến nơi làm việc của Quốc hội.

Tại đây, chúng tôi gặp thư ký của anh Mạnh, tên là Lê Thế Chữ.

Anh Chữ nói anh Mạnh đang điều hành họp nên rất bận, việc tiếp khách phải có hẹn trước.

Chúng tôi trình bày rằng đoàn từ Hoàng Su Phì ra, muốn gặp anh Mạnh để báo cáo việc xin vốn làm đường Bản Máy.

Khoảng 17 giờ, thư ký gọi điện vào báo cáo anh Mạnh.

Vừa nghe điện thoại, anh Chữ vừa quay ra phía đoàn chúng tôi, nói: “Có ba đồng chí từ Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, nói là có hẹn từ năm 1989.”

Từ chỗ ngồi, chúng tôi nghe rất rõ tiếng anh Mạnh trả lời:

“Tôi nhớ rồi, cho gặp, chờ tôi nhé.”

Tôi nghe câu ấy mà thấy lòng mình chùng xuống.

Ông vẫn nhớ.

Nhớ Bản Máy , nhớ  Hoàng Su Phì.

Và nhớ cả cuộc gặp năm nào.

Hơn 17 giờ, ông về phòng làm việc của thư ký.

Chúng tôi bắt tay nhau.

Tôi nhận ra ngay người đàn ông nhỏ nhắn của sáu năm trước.

Nhưng lần này, hoàn cảnh hoàn toàn khác.

Ông là một cán bộ lãnh đạo cấp cao, còn chúng tôi chỉ là những cán bộ huyện miền núi ra Hà Nội xin vốn làm đường.

Anh Mạnh nói mình rất bận, rồi bảo tôi trình bày.

Tôi báo cáo về tuyến đường Bản Máy.

Tôi nói về sự cần thiết của con đường.

Tôi nói về  mong mỏi của đồng bào dân tộc  vùng cao ước muốn con đường từ Huyện qua  Tụ Nhân, Chiến Phố đến  Bản Máy, về Đồn Biên phòng Bản Máy và những khó khăn trong việc đi lại.

 Tôi nói rằng năm ấy, ở Bản Máy, tôi từng đề đạt mong muốn có một con đường vào vùng biên giới. Anh đã nói: “Nhất trí nhé.”Bây giờ tuyến đường đã được tỉnh đưa vào kế hoạch, huyện muốn xin Trung ương hỗ trợ vốn để thực hiện.

Ông  Mạnh nghe.

Sau đó ông đồng ý chủ trương và chỉ đạo làm việc với Bộ Giao thông vận tải.

Ông viết ý kiến trên tờ trình của tỉnh, đại ý đề nghị Bộ Giao thông vận tải xem xét cho Hà Giang thực hiện một dự án đường giao thông theo hướng thí điểm, cùng với Mường Tè, Lai Châu.

Lúc ấy tôi hiểu rằng con đường đã có thêm một cơ hội.

Trước khi chúng tôi ra về, ông Mạnh nói đáng lẽ muốn mời anh em một bữa cơm, nhưng hôm đó phải tiếp khách quốc tế nên không thể.

Ông nói lời xin lỗi.

Tôi nhớ mãi câu ấy.

Bởi sáu năm trước, giữa núi rừng Bản Máy, ông đã cùng chúng tôi ngồi bên một mâm cơm giản dị.

Sáu năm sau, giữa Hà Nội, chúng tôi lại gặp nhau.

Một cuộc gặp chỉ cách nhau vài năm, nhưng hoàn cảnh đã khác rất nhiều.

 7.  Từ Văn phòng Quốc hội đến Bộ giao thông vận tải.

Sau cuộc gặp, thư ký hướng dẫn chúng tôi tiếp tục làm việc với Bộ Giao thông vận tải.

Lúc đó đã khá muộn. Chúng tôi tìm đến anh Dũng, thư ký của Bộ trưởng Bùi Danh Lưu.

Anh Dũng vẫn chờ.

Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, anh cho biết Bộ trưởng lúc đó đang ở Tân Sơn Nhất để chuẩn bị đi công tác.

Chúng tôi tiếp tục trình bày nội dung.

Sau khi nghe, Bộ trưởng Bùi Danh Lưu chỉ đạo: “Các anh cứ về đi, tôi chỉ đạo cấp sớm nhất có thể.”

Chúng tôi trở về Hoàng Su Phì với một niềm hy vọng rất lớn.

Đối với một huyện miền núi nghèo như Hoàng Su Phì khi ấy, một khoản vốn lớn để mở đường là điều không dễ dàng.

Nhưng lần này, chúng tôi đã có cơ sở để chờ đợi.

 8. Con đường Bản Máy

Đến tháng 6 năm 1995, Bộ Giao thông vận tải cấp cho dự án khoảng 1 tỷ đồng.

Số vốn ban đầu thấp hơn mức huyện đề nghị khoảng 1,6 tỷ đồng.

Sau đó, nguồn vốn tiếp tục được bổ sung để đáp ứng nhu cầu thực hiện dự án.

Con đường bắt đầu được triển khai.

Những con dốc ngày trước chỉ có người và ngựa đi qua;  dần vang lên tiếng máy, tiếng xe.

Những đoạn đường đất từng khiến chúng tôi phải đi bộ hàng giờ bắt đầu được mở rộng.

Con đường nối từ khu vực huyện lỵ vào Bản Máy không chỉ là một tuyến giao thông.

Đối với người dân vùng cao, đó là sự thay đổi của cuộc sống.

Có đường thì nông sản có thể đưa ra ngoài.

Có đường thì hàng hóa có thể đưa vào.

Cán bộ đi công tác đỡ vất vả.

Người dân đi khám bệnh, đi học, đi chợ thuận lợi hơn.

Với những người lính biên phòng, con đường cũng giúp việc vận chuyển, tiếp tế và đi lại ở vùng biên giới bớt gian nan.

Tôi không dám nói rằng chỉ từ một bát rượu hay một câu nói năm 1989 mà con đường được hình thành.

Để có một con đường, còn có chủ trương của tỉnh, kế hoạch của huyện, hồ sơ, vốn đầu tư, sự chỉ đạo của nhiều cơ quan và công sức của rất nhiều người.

Nhưng đối với riêng tôi, cuộc gặp năm 1989 là một kỷ niệm đặc biệt.

Nó cho tôi thêm niềm tin rằng những mong muốn chính đáng của người dân vùng cao, nếu được nói ra đúng lúc và được những người có trách nhiệm lắng nghe, có thể trở thành hiện thực.

9. Những người mở đường.

Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy câu chuyện về con đường Bản Máy không chỉ là chuyện của một người.

Đó là chuyện của rất nhiều người.

Là những cán bộ huyện năm ấy ngày ngày đi kiểm tra đường sá.

Là những người công nhân của Xí nghiệp xây dựng Cầu-Đường giao thông Hoàng Su Phì, mở từng mét đường núi và vách  đá.

Là đồng bào các dân tộc góp sức, dẫn đường, giúp đỡ bộ đội và cán bộ.

Là những chiến sĩ biên phòng bám đồn, bám bản, sống trong những căn nhà đơn sơ giữa vùng biên giới cũng tham gia mở đường.

Là những người ở tỉnh, ở Bộ, ở Trung ương đã xem xét và tạo điều kiện để dự án được thực hiện.

Những con đường vùng cao bao giờ cũng được làm bằng rất nhiều mồ hôi.

Có những người mở đường mà không bao giờ được nhắc tên.

Có những người chỉ để lại một kỷ niệm trong trí nhớ của người khác.

Nhưng tất cả đều góp phần làm cho con đường thành hình.

Tôi nhớ nhất những ngày đầu.

Đường còn là những lối mòn.

Xe không đi được.

Có lúc phải bỏ xe giữa đường rồi đi bộ.

Có lúc phải mặc quần áo đồng bào để đi vào vùng biên giới.

Có những đêm ngủ trong căn hầm nửa chìm nửa nổi, mái tranh phủ giấy dầu.

Có những bữa cơm chỉ có cơm với thịt hộp.

Và cũng có những bữa cơm có thịt dê, có rượu, có câu chuyện về tương lai.

Những điều ấy tưởng như rất nhỏ.

Nhưng chính từ những điều nhỏ bé ấy mà ký ức về một thời được giữ lại.

 Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy câu chuyện về con đường Bản Máy không chỉ là chuyện của một người.

Đó là chuyện của rất nhiều người.

Là những người cán bộ huyện năm ấy ngày ngày đi kiểm tra đường sá.

Là những người công nhân, người lao động mở từng mét đường giữa núi đá.

Là đồng bào các dân tộc góp sức, dẫn đường, giúp đỡ bộ đội và cán bộ.

Là những chiến sĩ biên phòng bám đồn, bám bản, sống trong những căn nhà đơn sơ giữa vùng biên giới.

Là những người ở tỉnh, ở Bộ, ở Trung ương đã xem xét và tạo điều kiện để dự án được thực hiện.

Những con đường vùng cao bao giờ cũng được làm bằng rất nhiều mồ hôi.

Có những người mở đường mà không bao giờ được nhắc tên.

Có những người chỉ để lại một kỷ niệm trong trí nhớ của người khác.

Nhưng tất cả đều góp phần làm cho con đường thành hình.

Tôi nhớ nhất những ngày đầu.

Đường còn là những lối mòn.

Xe không đi được.

Có lúc phải bỏ xe giữa đường rồi đi bộ.

Có lúc phải cải trang thành người địa phương để đi vào vùng biên giới.

Có những đêm ngủ trong căn hầm nửa chìm nửa nổi, mái tranh phủ giấy dầu.

Có những bữa cơm chỉ có cơm với thịt hộp.

Và cũng có những bữa cơm có thịt dê, có rượu, có câu chuyện về tương lai.

Những điều ấy tưởng như rất nhỏ.

Nhưng chính từ những điều nhỏ bé ấy mà ký ức về một thời lại được giữ lại.

 10.Bát rượu nghĩa tình.

Nhiều năm đã trôi qua.

Tôi đã đi qua rất nhiều con đường.

Đã gặp rất nhiều người.

Đã tham gia nhiều công việc.

Nhưng mỗi khi nhớ đến Bản Máy, tôi lại nhớ đến đêm năm 1989.

Nhớ căn nhà thấp tựa vào núi.

Nhớ chiếc bàn dài.

Nhớ những người mặc quần áo đồng bào.

Nhớ người đàn ông nhỏ nhắn ngồi cạnh mình.

Nhớ bàn tay rất ấm khi bắt tay.

Nhớ câu hỏi:

“Sau này nếu đất nước hòa bình thì chú có đề đạt gì không?”

Nhớ câu trả lời của mình về một con đường.

Và nhớ nhất: “Nhất trí nhé.”

Ngày ấy tôi không biết người ngồi cạnh mình là ai.

Tôi cũng không biết rằng sáu năm sau mình sẽ gặp lại ông giữa Hà Nội để nói về chính con đường ấy.

Tôi càng không nghĩ rằng cái bắt tay và bát rượu trong một đêm lạnh ở Bản Máy lại trở thành một phần ký ức sâu đậm đến như vậy.

Bây giờ nhìn lại, tôi hiểu rằng một lời hứa chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta còn nhớ đến nó và tìm cách biến nó thành hành động.

Nhưng một con đường cũng không thể được xây dựng chỉ bằng lời hứa.

Nó phải được xây bằng chủ trương, bằng quyết tâm, bằng tiền vốn, bằng mồ hôi, bằng sức lực của biết bao con người.

Bát rượu năm ấy vì thế không phải là câu chuyện về rượu.

Đó là câu chuyện về nghĩa tình.

Một bát rượu giữa những con người xa lạ nhưng cùng nói về một mong ước chung.

Một con đường cho đồng bào.

Một con đường cho vùng biên giới.

Một con đường để những nơi xa xôi của Tổ quốc gần hơn với cuộc sống bên ngoài.

 LỜI KẾT

 Có những con đường được đo bằng cây số.

Nhưng cũng có những con đường được đo bằng năm tháng, ký ức và nghĩa tình.

Con đường vào Bản Máy đối với tôi là một con đường như thế.

Nó bắt đầu từ những lối mòn vùng cao, những chuyến đi bộ, những căn hầm đơn sơ và một bữa cơm trong đêm lạnh. Ở đó có một cái bắt tay ấm áp, một bát rượu nghĩa tình và một câu nói tôi nhớ suốt nhiều năm: “Nhất trí nhé.”

Sáu năm sau, câu nói ấy lại được nhắc đến giữa Hà Nội, và từ một mong ước nhỏ bé của người cán bộ giao thông năm nào, con đường dần trở thành hiện thực.

Nhìn lại, tôi hiểu rằng một con đường không chỉ được làm nên bởi tiền vốn, máy móc hay sức người. Nó còn được bắt đầu từ một ước mong chính đáng, từ sự đồng lòng và từ những con người biết lắng nghe, biết giữ lời và cùng nhau biến điều mong muốn thành hiện thực.

    Con đường Bản Máy không chỉ nối những bản làng với huyện lỵ. Nó còn nối một lời mong ước năm xưa với hiện thực hôm nay .Và với tôi, đó cũng là một phần ký ức đẹp về một thời đã đi qua — nơi một bát rượu trở thành nghĩa tình, một lời nói trở thành động lực, và một ước mong trở thành con đường.

        Đó là điều mà sau bao nhiêu năm, tôi vẫn nhớ./,

(Ngô Lê Lợi – Hồi kí- Yên Hòa -Hà Nội ngày 27/9/2026)