ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

Tu Phật để có “THÂN TÂM AN LẠC” và GIA ĐINH HẠNH PHÚC có Phúc Lộc mãi?

 

(Tượng Tam Thánh Phật -Chùa Bình A Nghĩa Hưng -Ninh Bình )

   Có một thực tế trong cuộc sống  hiện nay ; từ người “giàu nứt đố đổ vách ” cho đến “người nghèo kiết xác” đều than khổ? và đều không lý giải được nỗi khổ đến từ đâu? Hàng trăm ngàn nỗi khổ cứ ùn ùn kéo đến làm khổ cái kiếp làm người ? Khuyên người trẻ  tu để bớt khổ thì nhiều người lại cho rằng ; bây giờ còn trẻ tu sớm quá hoặc tu sớm thì sợ “không biết có theo được không ?” ; Khuyên người già tu thì nói “già rồi tu làm gì nữa” ; hoặc “Không biết tu để làm gì ?”và còn nhiều lí do nữa không kể hết được ? Vậy tu khó cỡ nào ?

Chúng ta trong đời sống  ít nhất một lần được nghe câu tục ngữ :

 Thứ nhất là tu tại gia,

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.

    Tu là một quá trình sửa đổi tâm tính để đạt đến một đời sống  an vui, lợi ích. Tuy vậy, có phải ở đâu, và bất cứ khi nào, con người cũng có thể tu tập được? Mục đích của đạo Phật ra đời là để khuyên người ta hướng thiện, làm lành, lánh dữ, mục đích tối thượng là để đạt đến giải thoát mọi khổ đau trần tục. 

    Thấm nhuần chân lý và thâm sâu  của đạo Phật, cha ông ta tự ngàn xưa đã đúc kết và truyền đời cho con cháu về một câu tục ngữ vừa mang tính giáo dục, khuyên răn, vừa mang tính đánh giá, nhận xétvề quá trình tu tập của mỗi con người. Câu tục ngữ hàm chỉ về mức độ khó của quá trình tu tập, thì xem ra, khó nhất là tu tại gia, khó nhì tu chợ và dễ hơn khi tu ở chùa?

    Quả thực, mục đích của quá trình  tu như đã nói là để xa rời, từ bỏ những tham đắm trần gian, xả bỏ sự hưởng thụ lẫn ngu dốt, tham lam, sân hận trong lòng để đạt đến giải thoát, yên vui trong tâm tưởng…thì việc thực hiện những điều này nơi tại gia - trong gia đình của mình là khó nhất. Vì ở nhà, luôn tồn tại những thứ làm con người dễ đắm nhiễm. Nhiều người lí luận rằng ; làm con người thì phải biết hưởng thụ (ngũ dục)  gồm năm thứ: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, là những thứ làm con người phải bỏ công sức nhiều nhất để có. Nhưng theo giáo lí của Phật thì những cái đó làm mất đi sự tinh tiến, trong sạch để chìm đắm vào nó; kế đến trong gia đình luôn tồn tại những yếu tố cản trở quá trình  tu như: lo toan cuộc sống gia đình, quan hệ vợ chồng, con cái luôn thường trực những sự cãi vã, tranh đấu, thậm chí cả sự yêu thương, ân ái cũng là nguồn gốc của khổ đau (luân hồi – sinh tử). Trong gia đình, lúc nào cũng có cớ để tham, sân, si nổi lên. Do vậy, tu hành ở nhà là rất khó, thậm chí là khó nhất. 

    Không ít người quan niệm rằng: “Tu tại gia” là xây điện thờ cúng, lập bàn thờ, đặt tượng Phật và bát hương trong nhà mình; rồi sớm tối, hoặc ngày Tết, ngày mồng một, ngày rằm thì sắm đồ cúng lễ cho thịnh soạn, thắp hương tụng niệm cầu Trời khấn Phật cho bản thân và gia đình mình được bình an phú quý, tấn tài tấn lộc, thăng quan tiến chức, vạn sự như ý. Nếu chỉ hiểu như vậy thì thật là hạn hẹp, không đúng với  giáo lí của Đức Phật. Có nhiều người đã “tu” ; nhưng đáng buồn thay, gia đình họ sống lục đục, kém luân thường đạo lý, ai nấy không chú ý sửa mình theo những điều hay lẽ phải. Hằng ngày, họ thường làm những điều xấu, điều ác với hàng xóm láng giềng, vẫn vơ vét công quỹ, chiếm đoạt đất đai, hoặc hách dịch cửa quyền nơi công sở, hoặc lừa đảo, buôn gian bán lận bóp hầu bóp cổ “đồng bào mình”, hoặc lưu manh, côn đồ, trộm cướp, hoặc lười biếng và sống sa đọa, hoặc nịnh hót, chui luồn để cầu chức, cầu lợi, cầu tài! Như thế thì không thể gọi là “tu”.

Kế đến, tu chợ cũng rất khó khăn, bởi hai lẽ: thứ nhất, mục đích của con người đến chợ là buôn bán, trao đổi, lấy tiền làm mục đích tối thượng, nên có khi chỉ vì vài đồng bạc, hoặc vì chỗ ngồi  bán hàng mà sinh ra cãi vã, đánh nhau; thứ đến, chợ là một môi trường ồn ào, đông đúc, xô bồ, lúc nào cũng có cơ hội để sự bực tức, sự tham lam nổi lên, không có chỗ cho sự yên lặng, lắng lòng.

 Tu chùa cũng rất khó và dành cho người “Xuất gia”; tu ở chùa  xem ra còn có môi trường thuận lợi hơn, bởi chùa chiền là những nơi xa lánh trần tục, vắng lặng và đầy đủ các điều kiện cho quá trình tu tập như kinh sách, niệm phật đường, phòng tĩnh toạ….Trước đây, chùa chiền thường được xây đắp ở những nơi xa dân (có thể ở giữa cánh đồng), xa cảnh ồn ào náo nhiệt của chợ búa; quan hệ trong chùa cũng không giống như trong gia đình, các sư sãi sống một đời “thiểu dục, tri túc” (giảm tối thiểu những ham muốn, luôn biết đủ), là điều kiện tốt để tu hành. Ngày nay, do đất chật người đông, để phục vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của người dân chùa chiền, được xây dựng ở phố phường tấp nập nên phần nào làm cho quá trình “tu chùa” trở lên khó khăn hơn?.

Từ chỗ quan niệm về độ khó trong các môi trường tu hành, câu tục ngữ xem ra còn hàm chỉ sự khinh- trọng của người xưa về các môi trường tu tập, từ đó đánh giá cao hay thấp những con người biết vượt lên hoàn cảnh để tu hành.

 Nếu “tu tại gia” là khó nhất thì người xưa đặt môi trường “tại gia” cao hơn cả, là nơi đáng để tu hơn cả, con người chấp nhận tu trong hoàn cảnh này là “thứ nhất”. Có thể, sự khôi phục phần khuyết của câu tục ngữ : “Thứ nhất [là người] tu tại gia”. Điều này cũng phù hợp với quan niệm độ sinh của đạo Phật - tức giải thoát cho toàn bộ chúng sinh. Chúng ta đều biết, trong hàng đệ tử của Phật thì phật tử tại gia là lực lượng đông đảo nhất, và có vai trò rất quan trọng trong việc lưu giữ và truyền bá giáo pháp. Do vậy, nói điều này, cha ông ta một mặt đánh giá cao, mặt khác động viên những phật tử tại gia trong quá trình tu tập.

    Đó là quan điểm về thứ lớp phải trải qua trong tiến trình tu tập. Theo cách hiểu này, muốn tu được ở chùa, người ta phải trải qua quá trình tu tập tốt ở tại gia, kế đến tu ở chợ, sau cùng mới ra tu ở chùa. Nếu theo cách hiểu này, môi trường “chùa” lại được đánh giá cao nhất.

     Tại sao trước nhất phải tu ở tại gia? Xét trong gia đình, các mối quan hệ thân cận, gần gũi với chúng ta nhất là tình cảm gia đình: vợ chồng, con cái, anh em, ông bà, cháu chắt. Chúng ta tu là để sửa đổi tâm tính của mình theo tinh thần từ, bi, hỉ, xả, hiền hoà, từ ái hơn, bao dung hơn. Mà những biểu hiện đó, trước nhất là phải thể hiện trong cách đối xử với người thân trong gia đình. Nếu chúng ta tu hành mà đối xử tệ bạc với người thân thì đó chẳng phải là kết quả của sự tu hành chân chính. Đó là còn chưa kể đến việc đạo Phật quan niệm về đạo Hiếu rất sâu sắc, thông qua hình ảnh sáng ngời hiếu đức của ngài Mục Kiền Liên đã thâm nhập vào đời sống văn hoá – xã hội sâu rộng trong sinh hoạt của người dân mỗi mùa Vu Lan báo hiếu.

     Tu tại gia tốt rồi, kế đến mới tu chợ. Chợ là nơi thập phương cùng đến, là những người không quen biết, thân thích gì với ta, mà ta đem lòng khoan dung, từ ái, yêu thương tất cả mọi người, không tranh giành, không cãi vã, ấy là chúng ta đã mở rộng lòng thương của chúng ta tới đồng loại. Lúc này quá trình tu hành của chúng ta đã tiến thêm một tầng bậc đáng kể, vượt ra khỏi phạm vi gia đình, đem lòng yêu thương trải ra xã hội (chợ là hình ảnh của một xã hội thu nhỏ).

 Cuối cùng, với những hành trang tu tập tốt ở tại gia, và ngoài xã hội, chúng ta bước vào chùa với một sự tự tin, tự hào vì quá trình tu tập của mình đến đây có thể có cơ hội để đạt được mục đích tối thượng - sự giải thoát. Mặt khác, chúng ta vào chùa là với tinh thần kính Phật, trọng Tăng, học hỏi giáo Pháp - tức tiếp xúc với ba thứ tôn quý nhất ở đời (Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng). Do vậy, chúng ta phải đạt đến một trình độ tu hành đủ thanh tịnh đã trải qua như (thông qua tu tại gia và tu chợ) để có thể tiếp xúc với những thứ được xem là “báu vật” của thế gian. 

 Đấy là Tu. 

    Tại sao trong nhân gian có “người giàu người nghèo” ; lại có “Kẻ ăn không hết người lần không ra” ; theo kinh sách Phật giải thích là do người có Phúc Hữu Lậu và Phúc Vô Lậu”

“Phúc Hữu Lậu” (Mình làm mình hưởng) : Người làm phúc với ước mong được hưởng phúc  ngay trong đời này hoặc về sau, đó là phúc hữu lậu, và còn trong vòng sinh tử luân hồi. Phúc/Phước là chỉ cho sự giàu sang, sống thọ, con cháu đùm đề và thân thể khỏe mạnh của người thế gian. Hàn phi Tử nói : “ sống thọ, giàu sang được gọi là phước mà người đời ai cũng muốn có, ai cũng muốn năm phước vào nhà” ( ngũ phước/phúc lâm môn ). 

Vậy ngũ phước/Phúc là gì?  Nhà nào cũng muốn có?

1. Sống thọ.

2. Giàu sang.

3. Khỏe mạnh và yên ổn.

4. Đức độ được con cháu hiếu thuận.

5. Sống đến cuối đời và ra đi nhẹ nhàng.

 Và nếu không tu thì Phúc này hết rất mau ; Không tồn tại mãi. Muốn có Phúc này mãi mãi thì phải tu Phật.

Nếu mình muốn cầu nhiều phước thì phải tu phước, tu phước thì phải trồng phước, giống như nông dân làm ruộng, phải nỗ lực trồng trọt thì mới có thu hoạch, người tu phước cũng vậy, phải đem hạt giống phước đức gieo khắp ruộng phước (phước điền) thì mình sẽ thu hoạch được quả của phước báo.

 Phước điền là gì ? kinh Vô Lượng Thọ có ghi “ Phước thọ của thế gian giống như sinh vật trong ruộng. nên gọi là ruộng phước (phước điền)” phước điền thế gian lại có thể phân ra làm nhiều loại. 

Một là Kính điền và Bi điền: đối với cha mẹ thầy tổ và tam bảo mà sinh tâm cung kính, cúng dường, phụng dưỡng gọi là Kính điền. đối với những người nghèo khổ, bần cùng tỏ lòng thương sót, bình đẳng cứu giúp, khiến họ thoát khổ gọi là Bi điền.

Hai là Báo ân phước điền: Đối với cha mẹ, sư trưởng cho đến những người có ơn đối với ta thì phài hiếu kính, phụng dưỡng, đem các vật chất để cúng dường , giúp tinh thần an ổn thì mình sẽ được tăng trưởng phước báo đó gọi là báo ân phước điền. Cung kính Tam Bảo, công đước thù thắng sẽ được phước lớn, đó gọi là công đức phước điền. đối với hạng người bần cùng của thế gian, thương sót giúp đỡ, cho họ những vật cần thiết, cứu giúp những lúc hoạn nạn, thì sẽ tích phước rất nhiều, đó gọi là bần cùng phước điền.

Ba là Thú điền, Khổ điền, Ân điền và Đức điền: Đối với tất cả sức sanh, yêu thương, giúp đỡ bình đẳng gọi là Thú điền. đối với những người đang bị buồn khổ, bình đẳng cứu giúp thì gọi là Khổ điền. đối với cha mẹ, sư trưởng thì hiếu thuận cung kính, cúng dường, hầu hạ thì gọi là Ân điền. Đối với Tam bảo thì cung kính cúng dường thì gọi là Đức điền.

Bốn là trong kinh Phạm võng đã ghi lại: 1. Phật, 2. Thánh nhân, 3. Hòa thượng (thọ giới bổn sư), 4. sư trưởng, 5. Tăng nhân, 6. Cha, 7. Mẹ, 8. người bệnh.

        Đối với 8 hạng người ở trên mà sanh tâm cúng kính, bố thí cúng dường, yêu thương giup đỡ thì có thể sanh vô lượng phước đức cho nên gọi là phước điền. nhưng trong 8 loại phước điền đó thì chăm sóc người bệnh là phước điền lớn nhất. khi đức Phật còn tại thế, ngài đã từng chăm sóc và lo thuốc thang cho tỳ kheo bị bệnh, rồi ngài Ngộ Đạt quốc sư đời nhà Đường cũng do lòng từ bi mà chăm sóc cho một vị tăng bị bệnh ghẻ lở, giúp cho vị đó hết đau khổ và sự xa lánh của mọi người. cho nên người nào muốn tu phước thì phải chú ý đến phước điền chăm sóc người bệnh. Người tu phước, ngoài việc gieo trồng thật nhiều phước điền, thích làm việc thiện và bố thí, còn phải có lòng từ bi đối với tất cả, bởi vì tất cả chúng sinh đều có ân với chúng ta. Cơm ăn, áo mặc hay việc đi lại của chúng ta điều phải dựa vào việc cung cấp của mọi người, nếu như người nông dân không làm ruộng, người công nhân không dệt vải, giao thông không thuận tiện thì người buôn bán không thể vận chuyển được hàng hóa, chúng ta sẽ không có cách giải quyết được nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Nếu như không có sự dạy dỗ, chỉ bảo của sư trưởng thì làm sao tăng trưởng tri thức. nếu như không có sự trừng phạt và ngăn chặn của pháp luật, dịch vụ y tế , giữ gìn trật tự cho đến việc thúc đẩy phát triển các tiện ích công cộng thì làm thế nào người dân sống và làm việc. Vì vậy mọi người không chỉ báo đáp ân của cha mẹ, sư trưởng mà còn phải báo đáp Ân của mọi người, vì vậy đức Phật dạy “ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân tam bảo, ân đất nước, ân chúng sanh đều phải báo đáp”. Giữa người và người nếu có tâm báo đáp, cung kính lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau thì đâu chỉ là trồng phước, vã lại mọi người đều có phước, rõ ràng là tạo phúc cho mọi người, phước lợi cho xã hội, phước báo đó thật là lớn và nhiều vô kể. Hoặc có người nói “ nghèo khổ thì khó làm việc bố thí, tôi vốn rất thích tu phước, đáng tiếc là kinh tế khó khăn, xin dạy cho tôi trồng phước thế nào? Nên biết không chỉ có tiền mới làm phước được, bởi vì tiền bạc chỉ là một phần của tài thí, ngoài ra trong nhà vật chất dư thừa có thể bố thí, quần áo dư thừa có thể bố thí, người có tri thức có thể bố thí, người có sức khỏe cũng có thể bố thí.

     “Phúc Vô Lậu”(Mình làm xã hội hưởng). Ngược lại, người làm phúc mà không mong được báo đáp, không mong được hưởng phúc , khỗng cưỡng cầu, đó là phúc vô lậu.

    Phúc vô lậu do những việc làm có ích lợi cho người (từ thiện làm các công việc có ích cho xã hội: ủng hộ thiên tai bão lũ, giúp làm nhà giảm nghèo cho các gia đình khó khăn, nạn nhân chất đôc da cam ddioxin, làm cầu , làm đường cho những nơi chưa có,  thiện nguyện góp tịnh tài nấu cơm, nấu cháo chăm sóc bênh nhân bị K...), nhưng đồng thời cũng chuyển hóa được con người chính mình nuôi dưỡng tâm từ bi, thí dụ như bố thí cúng dường, phóng sinh, tụng kinh niệm Phật, tu tâm dưỡng tính. 

    Người làm phúc với tâm từ bi hỷ xả, không cầu mong được hưởng phúc về sau, chỉ cố gắng tu học để tiến dần đến chỗ giác ngộ và giải thoát, đó là phúc vô lậu, vượt khỏi vòng sinh tử luân hồi. Trong lúc thực hiện hành động tạo phúc, không nghĩ rằng mình đang làm phúc, giúp đỡ người khác vì tình thương, do lòng tốt tự nhiên, với tâm bất vụ lợi, vì người quên mình, đó là hành động tạo phúc cao thượng nhất, đem lại "phúc báu" vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.

"Phúc hữu lậu" ví như tiền tiết kiệm, có khả năng giúp con người giàu sang, sung sướng, may mắn, bình yên ngay trong đời này. Nhưng hưởng phúc này có ngày cũng cạn, cũng dứt. Khi đó, con người sẽ phải đền trả những nghiệp báo trước kia. Chúng ta đã từng thấy các ông vua, các bà hoàng, các hoàng tử, các công chúa, các nhà giàu có trưởng giả, thế lực quyền quí, cao sang danh vọng, các lãnh tụ chính trị, các lãnh tụ tôn giáo, khi hưởng hết phúc báo hữu lậu, họ phải chịu nhiều tai nạn, khổ ách, tán gia bại sản, thân bại danh liệt, thậm chí có thể mất mạng thê thảm, không chỗ chôn thân!

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:"Con người khi đang hưởng phúc báo, cũng như mũi tên bắn lên không trung. Mũi tên bay lên rất nhanh, rất mạnh, cũng như con người gặp mọi sự may mắn, tốt đẹp, như ý. Đến khi phúc báo hết, con người bắt đầu đền trả nghiệp báo, cũng như mũi tên hết trớn thì rơi xuống đất cũng nhanh như vậy", chính là nghĩa phúc hữu lậu đó vậy.

Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy chúng ta khi làm phúc, đừng mong cầu hưởng phúc báo, mà nên nguyện được phúc duyên, đời đời gặp Chính Pháp, gặp thầy lành bạn tốt, giúp đỡ tu tập, cho đến ngày giác ngộ và giải thoát mà thôi..?

 Muốn làm Phật tử tại gia phải làm gì? 

        Để trở thành một phật tử tu ở chùa hay Tu tại gia thì trước tiên bản thân phải “tự nguyện” quy y TAM BẢO để làm người PHẬT TỬ chân chính. Quy y TAM BẢO phải tự mình đến các chùa để nhà sư Quy cho và khi quy y có bằng “Điệp” cấp cho mỗi phật tử-Tên và pháp danh (Ngoài nhà chùa ra không ai có thể quy y đươc).

Thế nào là quy y TAM BẢO

Quy y là chỗ nương tựa nơi người ta tìm đến khi họ buồn phiền ; hay  cần sự yên tỉnh và an ổn. Có nhiều cách nương tựa. Khi không hạnh phúc, họ nương tựa nơi bạn bè, khi họ lo âu và sợ hãi họ có thể nương tựa vào niềm tin và những hy vọng hão huyền. Khi họ gần kề với cái chết, họ có thể nương tựa vào đức tin ở cõi thiên đàng vĩnh cửu. Nhưng Đức Phật lại dạy rằng không có chỗ nào kể trên là chỗ nương tựa thật sự cả vì thực tế nó không đem đến sự thoải mái và an toàn.  Thành thật mà nói không có  nơi nương tựa nào an toàn, không là nơi nương tựa cao vời, nương tựa nơi ấy không thể thoát khỏi mọi khổ đau. Mà phải nương tựa vào Phật-Pháp-Tăng mới là nơi để giúp chúng ta giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Việc đầu tiên là phải tự nguyện quy y TAM BẢO : Quy y Phật là chấp nhận niềm tin rằng con người có thể giác ngộ và hoàn thiện như Đức Phật. Quy y Pháp có nghĩa là hiểu được Bốn Chân Lý Mầu Nhiệm và cuộc sống của mình nương theo Bát Chánh Đạo. Quy y Tăng tức là tìm sự hổ trợ, khuyến tấn, và hướng dẫn những ai đã thực hành Bát Chánh Đạo. Thực hiện được như thế sẽ trở thành một Phật tử và là bước khởi đầu để đến Niết bàn

Tu như thế nào để vừa hưởng Phúc và giải thoát ngay trong một đời này? Nên thực hiện ngay trong đời này kẻo muộn....?

 Trước tiên phải đến một nhà chùa  tự nguyện “Quy y” Phật-Pháp-Tăng và giữ “5 giới” (nên chọn một nhà sư làm lễ quy y là tốt nhất); Chọn Pháp môn mà tu; hiện nay có đến hơn 90% dân số nước ta tu theo Pháp môn Tịnh độ tông để mãn báo thân sanh về nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. 

Sau đó thực hiện “Phước huệ song tu”. 

“Tu Huệ”: Phát tâm tu tập, nên học giáo lý, mở mang trí tuệ, mới tỏ chánh đạo, mới có chánh kiến, mới đặng chánh tín, tâm được thanh tịnh, tránh được tà đạo, tránh cảnh tu mù, lọt hầm sụp hố, từ bỏ tâm ma, đạt được giác ngộ, thấu rõ chân lý, giải thoát khổ đau, sống trong cảnh giới, niết bàn hiện tại, ngay trong cuộc sống, hằng ngày của mình. 

“Tu Phước”: Thực hành công đức, phóng sinh, hạnh nguyện bố thí, chỉ vì từ tâm, giúp người cần đến, khiến người an vui, qua cơn khốn khó, bớt cơn phiền não, khiến cho người khác, sanh tâm bố thí, nhứt tâm hồi hướng, công đức phước đức, cho khắp muôn loài, pháp giới chúng sanh. Làm được như vậy, trí tuệ khai mở, tâm niệm hòa bình, chúng sanh an lạc, mọi người hạnh phúc. Khi đã tu không kể người già hay trẻ thì hàng ngày phải nguyện và “Niệm Phật A Di Đà” chia thời mà niệm liên tục.

Hiện nay; nhiều người đã tu nhưng không đạt giải thoát về nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà có thể Tu “không thành” có thể là do: 

-Chưa giữ được chữ "Tín": Trong rất nhiều lời giáo huấn của các thầy đều nói: câu hồng danh: “Nam mô A DI ĐÀ PHẬT”  là vô thượng pháp môn, có thể giải nghiệp 80 ức kiếp. Muốn về cõi cực lạc thì phải niệm phật và phải “Tín -Hạnh-Nguyện”. Phải Tin là có nước Cực Lạc. Các khóa lễ ở chùa thì có thể kết hợp tụng kinh, trì chú, niệm phật vì chúng sanh căn cơ khác nhau. Nhưng khi thực tu thì mấy ai chỉ niệm mỗi câu hồng danh và phải kiêm thêm trì chú, tụng kinh thì mới yên tâm. Đã thực tu thì chỉ chọn 1 pháp môn mà tu thôi.
        -Chưa giữ được “chánh niệm”: Tâm phật, tâm ma đều tồn tại trong mỗi người thường, có mấy ai luôn giữ được chánh niệm câu hồng danh hay niệm tâm ma là chủ yếu.
    - Kinh sách và chùa là phương tiện để đưa chúng sanh sang bên kia bờ giác. Vậy mấy ai ngộ được chữ này, hay lại chấp vào tụng kinh, trì chú cho nhiều, ở chùa thật lâu, không cần thực tu cũng giải thoát. Nếu như vậy thì chỉ như : "Mò trăng đáy nước mà thôi". Cứ theo lối hành pháp hiện nay thì phật giáo đạt được một điều là: "giúp con người sống tốt hơn" mà thôi còn không giải thoát được?

 Về giới luật cần giữ:

-Cư sĩ, khi quy y Tam Bảo: 05 giới. ( Mọi người chúng ta)

-Sa Di, khi xuất gia: 10 giới.

-Tỳ Kheo: 250 giới.

-Tỳ kheo ni: 348 giới . . .
Vậy, ta thấy càng tu thì phải giữ giới càng nhiều, đồng nghĩa với độ khó càng tăng. Đức Phật cũng đã có dạy rằng "lấy giới luật làm Thầy", cho nên với 1 ông thầy khó thì người tu phải nghiêm túc hơn. 

Tu tại gia như chúng ta (Gọi là Phật tử tại gia) phải giữ được 5 giới Cấm (Không sát sinh-Không nói dối-Không trộm cắp-Không tà dâm- Không uống rượu). Nếu gia đình nào mà đã Tu Phật và giữ 5 giới này thì chắc chắn gia đình đó đang rất HẠNH PHÚC .

 Ngoài những cống hiến cho Phật pháp, người Phật tử kính trọng Tu sĩ Phật giáo là ở việc giữ 5 giới./.

(Ngô Lê Lợi-tháng 7/2017) 

 

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

Tại sao khi cúng Thổ công và Gia tiên không được bầy lễ “chay & mặn” trên cùng một ban thờ?

 


Trước khi viết bài này tác giả xin cảm ơn Thầy Nguyễn Trọng Tuệ - là Chủ nhiệm câu lạc bộ Phong thủy Thăng long -Hà Nội. Trong gia đình người Việt (ngay cả người theo Công giáo) nhà nào cũng có Ban thờ và trong Ban thờ  không thể thiếu được bát hương hay bát nhang dùng để  thắp Hương. Nhưng việc bốc bát nhang hay sắp đặt thế nào đâu phải ai cũng rõ.

1. Bát hương:  là một vật linh thiêng dùng thờ cúng trong gia đình, là biểu hiện Tâm linh trên ban thờ. Đó là nơi mỗi khi thắp hương tưởng niệm, cầu cúng hướng tới tổ tiên, các vị thần linh hay gửi lòng thành kính vào cõi vô hình rồi chủ nhân cắm nén hương vừa đốt vào.

Trong gia đình tùy theo trách nhiệm là con trưởng, con thứ v.v... mà thờ phụng. Thông thường có 3 cấp bậc

- Thờ Phật: cầu mong sự bình an thanh thản đến với gia đình, giải thoát tai ương để “Cứu nạn cứu khổ và để tâm an” và giúp chúng ta về “cõi cực lạc”?

- Thờ Thần: thờ thổ công, long mạch, thần tài, tiền chủ những vị cai quản mảnh đất mình cư ngụ để  “Cầu giúp gia đình ăn ở yên ổn”.
-Thờ Thổ Công: là Thờ "ông quan thần linh" trên mảnh đất mình ở.

- Thờ Thổ Công và Thờ gia tiên: họ nhà mình và các bậc phụ thờ theo tiên tổ. Nếu thờ tổ tiên họ tộc bên ngoại (trường hợp bên đó không có người thừa tự 2 vợ chồng bàn thống nhất) thì phải lập bát hương thờ chung trên một ban thờ; để “Tri ân Tổ tiên và người sinh thành và Báo hiếu cả hai bên nội , ngoại”

 2. Đặt bát hương trên ban thờ phải theo một quy  tắc và phong thủy  nhất định của từng gia đình 

 (xem bài: Nghi lễ khi chuyển nhà mới http://phuongdonghoaloi.blogspot.com/2014/11/nghi-le-khi-chuyen-nha-moi.html

 3. Quy  tắc chung đặt ban thờ: kể cả bàn thờ  ở phòng thờ và bàn thờ treo trên vách tường.

*Theo phong thủy: Chọn hướng để đặt ban thờ;  Ban thờ thường đặt theo trạch tuổi của chủ nhà (hay còn gọi là mệnh quái). 

Để có một bàn thờ theo phong thủy  các Thầy  bao giờ cũng tư vấn cho gia chủ  căn cứ vào tuổi để xác định các hướng và vị trí đặt   có liên quan tới việc hợp mệnh, tương sinh, tương khắc trong ngũ hành. Sau khi có được   tuổi  của chủ nhà  mới tính đến các yếu tố về: nơi đặt bàn thờ;  trang trí, đối tượng thờ cúng… Khi bắt đầu xây dựng nhà hay mua nhà/hay căn hộ nhà chung cư thì phải xác định hướng nhà và vị trí đặt ban thờ cho phù hợp với tuổi chủ nhà.

*Theo phương pháp thông thường; với những người không xem phong thủy như kiểu “vô sư vô sách”: Ban thờ thường đặt quay ra hướng cửa chính (với ban thờ này hiện nay thường chiếm khoảng trên 90% ).

* Nguyên tắc khi đặt ban thờ là người chủ nhà/các thành viên khi đến phòng thờ để cúng-lễ thì phải nhìn trực diện ban thờ thì mới là đúng cách. Còn các ban thờ mà nhìn chỉ nhìn thấy một cạnh ban thờ là chưa hợp cách. Bàn thờ phải kê sát vách tường gọi là  thế “Hữu tình”.

 4. Khi Cúng-Lễ .

Theo các Thầy cúng truyền lại; chủ gia đình/hoặc người  trong gia đình phải  lau dọn ban thờ, người xưa thường phải tắm rửa sạch sẽ (hoặc người phải sạch sẽ), chuẩn bị  cắm hoa tươi; bầy  đĩa hoa quả đặt lên; nhiều gia đình trong cúng lễ mùng 1 hoặc ngày rằm còn bầy tiếp lên: Con gà ngậm bông hoa; đĩa dò/khoanh thịt…. sau đó thắp hương vào các bát hương mỗi  nén hương vào một bát hương. Bắt đầu cúng: chủ lễ thường khấn … “Nam Mộ A Di Đà Phật…” sau đó đến .. “Bản gia Thổ công và các quan các ngài (thần linh)…” ; tiếp đến “Gia tiên nội ngoại  hai bên:  vợ bên chồng”; nội dung  thông báo cho Thần linh và tổ tiên  biết ngày hôm nay  cúng việc gì , mời Thần linh và  tổ tiên  “hâm hưởng và phù hộ” cho gia đình, con cháu, dòng họ công việc gì đấy. Đợi sau khi hương cháy hết rồi gia chủ xin thụ lộc.

 5. Tại  sao khi cúng Thổ công và Gia tiên không được bầy lễ “chay & mặn” trên cùng một ban thờ?

* Thờ Phật: Thông thường các gia đình có ban thờ Phật riêng:  Để tỏ lòng tôn kính bậc Đại Giác Ngộ, mà gia đình  chúng ta tôn thờ, nơi đặt bàn thờ Phật trước nhất  phải đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà/ trong phòng thờ. Bởi vì Phật là bậc giác ngộ đang phù hộ cho cả thế giới ngày nay. Do vậy; như  thờ tượng Phật hay ảnh Đức Bổn Sư Thích Ca. Còn người  tu theo pháp môn Tịnh độ thì thờ chung ảnh Tam Thánh Tây phương: Phật A Di Đà, Đại Thế Trí Bồ Tát và  Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát …Cũng  có nhiều gia đình  thờ vị Phật quá khứ: Đức Phật A-Di-Đà, vị Phật hiện tại: Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni và Phật vị lai: Đức Phật Di-lặc, hoặc thờ cả 3 vị như vậy, gọi là Tam Thế Phật; hoặc thờ riêng tượng Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ...Khi cúng có bầy lễ và có bài cúng riêng.

 * Ban thờ : Chỉ có bát hương Thần linh và Gia tiên: như chúng ta đều biết;  khi cúng lễ  thường câu đầu tiên là “thỉnh Phật”: “Nam Mô A Di Đà Phật…”; do vậy trên ban thờ không thể bầy chung lễ “chay & mặn” trên cùng một ban thờ’. Đức Phật chỉ “ hâm hưởng chay tịnh” nên thấy có đồ mặn thì “Phật/Bồ tát/các linh thần hộ pháp” không về?

Bầy lễ thế nào cho đúng. Trên ban thờ chính có bát hương “Thần linh và Gia tiên” chỉ bầy: Hoa-quả-xôi-chè- bánh –kẹo…chai nước chay tịnh; nhiều gia đình muốn bầy thêm chai rượu và lon bia; vẫn bầy được nhưng với “lượng ít thôi” và “không mở nắp bia –rượu ” ra là được. ( Nên bầy bên phần bàn thờ “thờ ông/cha” (con trai). Còn bên dưới bàn thờ nên làm một mâm và “tất cả đồ mặn bầy ở mâm này”. Khi cúng thắp một hoặc ba nén hương “mời gia tiên với người chưa siêu thì hưởng ở đây”.

*      Trên bàn thờ chính khi bầy lễ “bầy đồ chay tịnh” như đĩa quả; đĩa bánh kẹo có thể bầy phía trước bát hương (nếu bàn thờ rộng) hoặc hai bên.

    Bát hương đã đặt lên ban thờ cần giữ nguyên vị trí, không xê dịch. Sau bát hương là phần phần bầy lư hương; đỉnh hương và con hạc tùy gia đình (Bộ Tam sự hay ngũ sự..), chỉ nên để ảnh gia tiên (nếu có) theo quy tắc “Nam bên Tả nữ bên Hữu”, Tốt nhất không bày rượu, vàng mã,... ở đây. Tất cả đồ thờ dâng lên (hoa tươi, quả tươi,...) và đĩa tiền thật dâng cúng và sau dùng tiền này  mua hương hoa thờ cúng hàng tháng gọi là “đĩa lộc” của gia đình.

 Nói thêm về linh thiêng của bát hương khi ta mời Thổ công và gia tiên: Mọi bát hương thờ cúng đều phải “linh thiêng”. Người bốc bát hương quyết định tính linh này. Người bốc bát hương phải có tâm thiện thì bát hương mới linh. Bốc bát hương mà tâm không thiện thì thường bát hương không linh.“Người bốc bát hương phải thành tâm và không được cầu lợi. Bốc bát hương là việc làm thiện giúp đời”.Như vậy chỉ có “Bốc bát hương” ở nhà chùa và nhà sư là người giúp gia chủ;  vì đa phần các nhà tu hành thì Tâm thiện và giúp đời (Tuyệt đối không nhờ người “đồng cốt” bốc bát hương …vì tiền); gia chủ tự bốc bát hương là tốt nhất ./.

   (Ngô Lê Lợi-tháng 10/2017)

 

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

Con cái đến với chúng ta là do ta gieo Nhân từ những kiếp trước.

 

(Chùa Bình A -Nghĩa Hưng -Nam Định Tu Pháp môn Tịnh độ tông )

        Tình cha mẹ không chỉ là nghĩa đời này,mà còn là duyên nghiệp từ nhiều kiếp trước.Con đến với ta, có thể để báo ân, trả nợ,
cũng có khi là thử thách để ta học cách yêu thương và buông bỏ.

Dù là duyên lành hay nghịch duyên,cha mẹ vẫn là trời cao trong đời mỗi đứa trẻ,còn con cái – chính là tấm gương phản chiếu nghiệp quả của mình.

Công sinh thành như trời biển,nghĩa dưỡng dục là hành trình dài của hy sinh thầm lặng.Dẫu cho một đời phụng dưỡng,cũng khó trả trọn ân sâu ấy.

Hiểu được điều này, ta không còn oán trách,mà học cách yêu thương trong tỉnh thức,dạy con bằng chính nhân cách và đời sống của mình.

        Đức Phật ví cha mẹ  ngang hàng với Phạm thiên. Ấn Độ thời điểm đó, đạo Bà-la-môn coi Phạm thiên là bậc tối cao, tối thượng của họ. Nếu những người con thường xuyên chăm sóc cúng dường vật thực hay những thứ khác cho cha và mẹ, mà đức Phật nói trong kinh, cũng không thể nào đền đáp được hết công ơn cha và mẹ.

Người Việt Nam ta rất coi trọng tình cảm gia đình. Vì thế, ca dao Việt Nam có rất nhiều bài diễn tả những tình cảm gia đình, tiêu biểu như:

“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
.

Trước hết, đó là công lao sinh thành. Không có cha mẹ thì không thể có bản thân của chúng ta. Cha mẹ đã sinh ta ra, đã chia sẻ một phần máu xương để ta có mặt trên cuộc đời này. Cha mẹ là người nuôi dưỡng ta từ khi chào đời đến lúc trưởng thành. Mẹ nuôi ta bằng những giọt sữa ngọt lành. Cha mẹ đã chăm sóc ta những khi ta đau ốm. Cha mẹ cũng ra sức làm việc vất vả để nuôi ta khôn lớn. Từ một hình hài nhỏ xíu đến khi biết đi, rồi biết đọc, biết viết, biết nấu cơm quét nhà, biết làm việc để tự nuôi mình, đâu phải chuyện ngày một ngày hai. Cha mẹ đã dành cho ta cả tình thương và sức lực của mình. Công lao ấy kể làm sao cho hết.

Không chỉ nuôi ta lớn, cha mẹ còn có công dạy dỗ cho ta nên người. Cha mẹ dạy ta bằng chính những việc làm, kiến thức, những hiểu biết về cách ứng nhân xử thế trong giao tiếp, học tập… Có thể xem cha mẹ chính là người thầy đầu tiên, dạy cho chúng ta đủ thứ. Để đền đáp công lao to lớn đó, mỗi chúng ta không phải thờ mẹ, kính cha khi cha mẹ không còn trên cuộc đời, mà chúng ta phải báo hiếu ngay khi cha mẹ còn hiện hữu trên cõi đời này.

Con cái báo hiếu cha mẹ như thế nào là đúng bổn phận:

        Đức Phật nói về Con cái đến với cha mẹ là do loại 4 nghiệp duyên tích từ kiếp trước?

Nghiệp duyên thứ nhất: Báo ơn

Phật dạy, loại nghiệp duyên này là do kiếp trước cha mẹ có ơn với con. Thế nên kiếp này con mới đầu thai để đền ơn cho cha mẹ. Ơn nghĩa càng lớn, con ở với cha mẹ càng lâu. Trả hết ân, con cái sẽ ra đi. Những đứa con này sẽ không quản ngại gian khó để phụng dưỡng, mong mỏi cha mẹ có được nhàn hạ, an vui. Không chỉ vậy, con còn không ngừng tu dưỡng đạo đức và trí tuệ, công thành danh toại, khiến cha mẹ nở mặt nở mày, rạng danh với thiên hạ. 

Nghiệp duyên thứ hai: Báo oán

Kiếp trước, cha mẹ vì kết hận với người nên họ đầu thai làm con của cha mẹ kiếp này để báo oán. Vậy nên, mới có trường hợp con cái ngỗ nghịch, bất hiếu, phá gia chi tử. Khi còn nhỏ thì ngỗ nghịch, khiến cha mẹ mất mặt, khổ sở, đau đầu. Khi cha mẹ già thì bất hiếu, không cung phụng, thậm chí còn bòn rút tổ nghiệp, làm những chuyện thương thiên hại lý, chẳng thể dung tha.

Cha mẹ đừng vội trách con, mà hãy trách vì kiếp trước ta từng nợ chúng quá sâu, kiếp này lại không biết đường trả, không biết cách dạy dỗ, để con lâm vào con đường tội lỗi, sai lầm. 

Nghiệp duyên thứ ba: Đòi nợ

Kiếp trước, cha mẹ thiếu nợ người nên kiếp này họ làm con để đòi nợ. Nợ nhỏ, cha mẹ chỉ cần lo cho con cơm ngon áo đẹp, thuốc thang đau ốm, học hành tử tế, cưới gả đàng hoàng. Khi nợ trả xong, cũng là lúc con đã đủ lông đủ cánh, tất sẽ bay đi.

Nếu món nợ quá to, con có thể khiến cha mẹ khánh gia bại sản, thân bại danh liệt. Suy cho cùng, cũng là lúc còn bé, cha mẹ đã lơ là, không dưỡng dục con chu đáo nên người. 

Nghiệp duyên cuối cùng: Trả nợ

Kiếp trước, người nợ cha mẹ nên kiếp này họ đầu thai thành con để trả nợ. Vì món nợ tiền kiếp, con sẽ nỗ lực hết mình để phụng dưỡng, giúp cha mẹ nhà hạ, nở mày nở mặt. Nhiều trường hợp con cái giỏi giang, nghiệp lớn vừa thành bỗng nhiên lìa trần.

Cha mẹ đừng trách trời cao không có mắt, suy cho cùng duyên phận hai bên chỉ đến đây. Hãy cầu nguyện con được siêu thoát, đầu thai đến một gia đình hạnh phúc hơn.

Vậy nên, đừng vội trách con đối đãi nhiều hay ít, bởi lẽ nó còn phụ thuộc vào kiếp trước con nợ cha mẹ nhiều đến mức nào.

Đôi điều gửi đến cha mẹ

Trên đời này, việc khó nhất ở đời chính là dạy dỗ, nuôi nấng một sinh linh thành người có trí tuệ và đạo đức. Dù là vì duyên nghiệp gì, cha mẹ cũng hãy là tấm gương sáng để con noi theo.

Chỉ có tu nhân mới có thể tích đức cho con. Để ta cả đời an yên, con cái công thành danh toại, không rơi vào bể khổ ở đời. 

 

        Theo Thầy Thích Pháp Hòa thì Con bạn đến đây để trả ơn, qua đường hay đòi nợ?

        Người đời  chia con cái ra làm ba loại, đứa nào khó tính thì cho là đến đòi nợ, người ngoan thì cho là đến trả ơn, còn lại là khách qua đường.

Đến báo ân: Kiếp trước bạn là người tốt, đã nhân từ đối với người khác, kiếp này họ sẽ đến báo đáp.

Đến đòi nợ: Kiếp trước bạn đã làm quá nhiều việc xấu, làm mất lòng người khác, làm tổn thương người khác, giờ người khác đến đây đòi nợ, bạn phải trả hết nợ cho người khác để bù đắp.

Con cái đến là Người qua đường: Loại người qua đường này không có quá nhiều ân oán, cũng không có thù hận với bạn, chẳng qua là tình cờ, anh ta đã đầu thai vào gia đình bạn, trở thành con của nhà bạn, ở bên bạn cả đời và cùng yêu thương nhau.

Bất kể điều nói trên có đúng hay không, con chúng ta có ngoan hay không, mỗi đứa trẻ là một tồn tại độc nhất và có vẻ đẹp riêng. Hãy tử tế với con cái của bạn và ở bên chúng. Theo nghiên cứu, trên thực tế, sự khác biệt giữa các bé chủ yếu do 3 nguyên nhân.

Lời Phật dạy về con cái mà cha mẹ nào cũng nên quán chiếu

Trong kinh Phật dạy rằng: mỗi đứa con đều mang theo một mối nợ ân tình từ kiếp trước, nên có thể thuộc bốn dạng: báo ân, báo oán, đòi nợ, hoặc trả nợ.

Người con báo ân chính là phước lành của cha mẹ. Dù ta có khắt khe hay lỡ lời, đứa con ấy vẫn hiếu kính, chăm sóc tận tình. Bởi trong đời trước, ta đã gieo cho nó một ân nghĩa lớn, nay nó trở lại để đền đáp.

Ngược lại, người con báo oán là thử thách. Ta thương yêu hết mực, nó vẫn trách giận, vẫn khiến ta khổ tâm. Có khi, sự oán hận ấy không nằm ở vật chất mà ở tinh thần: lối sống buông thả, bất hiếu, khiến cha mẹ lo lắng không nguôi.

Người con đòi nợ thì chỉ lấy của cha mẹ: tiền bạc, sức lực. Có đứa con vừa đòi nợ vừa báo oán, khiến cha mẹ đau cả thân lẫn tâm.

Nhưng cũng có những đứa con đến đời này để trả nợ bằng cách chăm sóc, phụng dưỡng, để tuổi già cha mẹ được an yên.

Thực tế quanh ta không hiếm: những cụ già dành trọn tuổi xế chiều chăm lo cho đứa con khốn khó; những bà mẹ âm thầm cắt nửa cái bánh bao mang về cho cháu, dẫu biết cháu chẳng mấy khi ăn. Tình thương ấy vừa là ân nghĩa, vừa là nhân duyên.

Nhiều khi nhìn con cái người khác ngoan hiền, thành đạt, ta tủi thân.

Nhưng nếu thấu hiểu lời Phật dạy: “Báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ”, ta sẽ bớt khổ. Có buồn chứ, nhưng không dằn vặt. Vì tất cả đều nằm trong vòng nhân quả mà kiếp trước ta (hay người làm cha làm mẹ) tạo Nhân kiếp trước và Quả kiếp này trổ ra phải chịu được con Báo  ân , Trả nợ thì hạnh phúc sung sướng; còn bị  Báo oán , Trả nợ thì phải biết không dằn vặt nên sống Tâm thiện và Tu tập Phật Pháp để ngay đời này đỡ khổ và được giải thoát khi mãn số, để thấy an nhiên trong chính hoàn cảnh mình đang sống.

        Đời người làm cha làm mẹ ai cũng biết nuôi một đứa trẻ nên người không chỉ là bổn phận, mà còn là con đường Tu –để chuyển hóa nghiệp, tích đức, và gieo lại hạt giống an lành cho mai sau.

        Trong cuộc đời, có gia đình được con cái hiếu thuận, chăm sóc chu toàn khi tuổi già;nhưng cũng có những bậc cha mẹ cô đơn héo mòn đến khi hết số , con cái hờ hững, thiếu trách nhiệm.Không phải ngẫu nhiên mà có sự khác biệt ấy,mà đều là kết quả của nhân duyên – nghiệp quả từ quá khứ của người làm cha làm mẹ đó từ nhiều kiếp trước:“Gieo nhân nào, gặt quả nấy.”

        Hiểu như vậy không phải để trách móc hay oán than,mà để mỗi người cha, người mẹ quay về quán chiếu chính mình.Muốn con cái hiếu thuận, trước hết cha mẹ cần sống có đạo đức,làm gương sáng trong cách đối nhân xử thế,biết yêu thương đúng cách – không nuông chiều, không áp đặt,mà dẫn dắt bằng trí tuệ và lòng bao dung.

Bởi con cái không chỉ nghe lời ta nói,mà còn “học” từ chính cách ta sống mỗi ngày.

        Đồng thời, người làm cha mẹ cũng cần hiểu rằng:không ai có thể nương tựa mãi vào người khác, kể cả con cái. Phước báu gia đình là hữu hạn,chỉ có công đức và sự tu tập mới là hành trang bền vững nhất.

        Đối với bậc làm cha làm mẹ: Khi còn đủ duyên lành, hãy tập buông bớt chấp niệm, hướng tâm về con đường tu tập, đặc biệt là pháp môn Tịnh Độ – niệm Phật phù hợp cho mọi độ  tuổi ; nhất là từ Trung niên  trở lên “Tịnh Độ Tông là một pháp môn tu học phổ biến trong Phật giáo Đại thừa, chủ trương dựa vào niềm tin (Tín), nguyện vọng (Nguyện) và chuyên tâm niệm hàng ngày  danh hiệu "Nam Mô A Di Đà Phật" (Hạnh) để vãng sinh về cảnh giới Cực Lạc thanh tịnh, nơi dễ dàng tu tập đến thành Phật. Đây là con đường tu tập dễ thực hành, phù hợp với mọi căn cơ, giữ tâm thanh tịnh,gieo hạt giống giải thoát ngay trong hiện tại”.

        Đối với con cái: con cái có người tốt, người chưa tốt (ngỗ nghịch), cha mẹ cần hài hòa bằng cách chấp nhận sự khác biệt, không so sánh, yêu thương vô điều kiện nhưng giữ vững nguyên tắc kỷ luật. Quan trọng nhất là cha mẹ cần sống tử tế để làm gương, kiên nhẫn thấu hiểu nguyên nhân thay vì chỉ trách móc, đồng thời vun đắp "duyên lành" trong gia đình. Chấp nhận và thấu hiểu: Coi con cái là duyên nợ, không quá mong cầu con phải hoàn hảo. Tìm hiểu tâm lý, lắng nghe thay vì áp đặt để hiểu tại sao con hành xử chưa tốt. Không so sánh: Tránh việc so sánh con này tốt với con kia chưa tốt, điều này tạo ra tâm lý đố kỵ và rạn nứt tình cảm anh em. Yêu thương vô điều kiện và nhất quán: Yêu thương đứa con ngỗ nghịch nhưng cần kiên quyết với hành vi sai trái. Kỷ luật cần dựa trên sự tôn trọng, không phải bạo lực. Làm gương (Sống tử tế): Cha mẹ là tấm gương tốt nhất; con cái sẽ tự thay đổi khi ngưỡng mộ cách sống đạo đức, hiếu thảo của cha mẹ. Tạo duyên lành (Quan điểm tâm linh): Tích cực làm việc thiện, tạo không khí gia đình ấm áp, hòa thuận, hạn chế sát sinh để hóa giải "nghiệp" xấu giữa cha mẹ và con cái. 

        Khi tâm đã an, nghiệp dần chuyển,ta không còn sợ cô đơn hay phụ thuộc,mà sống an nhiên giữa cuộc đời,và nhẹ nhàng bước qua vòng sinh tử luân hồi.

 Bởi sau cùng, con cái có thể là duyên,nhưng giải thoát – chỉ có thể là lựa chọn của chính mình để thoát khỏi sinh tử luân hồi./.

(Ngô Lê Lợi- Nghiên cứu từ Phật pháp tháng 4/2026)

 


Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Chi bộ 33 -Đảng ủy phường Yên Hòa Hà Nội du xuân Hải Hậu

 


          Nhân dịp đầu xuân Bính Ngọ chi bộ 33 tổ chức cho đảng viên chi bộ 33 tham quan du lịch huyện Hải Hậu (cũ) nơi đây có rất nhiều danh lam thắng cảnh và di tích văn hóa. 
        Đoàn được anh Trần Kim Tuyến đảng viên- CHT cựu CAND phường Yên Hòa người con của quê hương Hải Hậu hướng dẫn tham quan các danh lam và di tích văn hóa huyện Hải Hậu cũ nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(Anh Trần Kim Tuyến mặc áo trắng)

Đầu tiên là Nhà thờ Hưng Nghĩa Nam Định đẹp tựa lâu đài cổ tích

    Nhà thờ Hưng Nghĩa tọa lạc tại xã Hải Hưng ( Hải Hậu – Nam Định) nay là tỉnh Ninh Bình;  với lối kiến trúc hoành tráng, nguy nga khiến ai đến đây đều phải trầm trồ về độ tráng lệ của nó. Nhà thờ được xây dựng vào năm 1927 và đã trải qua bao nhiêu thăng trầm cùng lịch sử đất nước. Đến năm 2000 được cấp phép tu sửa lại và khánh thành vào 2007. Ẩn mình trong vẻ đẹp nguy nga, lộng lẫy, nhà thờ Hưng Nghĩa Nam Định luôn khiến người ta phải trầm trồ trước kiến trúc Gothic mái vòm mang vẻ đẹp bí ẩn và lạ lẫm. Những nóc nhà mái vòm kết hợp cùng chóp nhọn vươn cao dễ dàng khiến bạn liên tưởng đến trường học Hogwart trong tác phẩm phim Harry Potter. Đặc biệt, gam màu xám bao trùm toàn bộ nhà thờ càng khiến nơi đây trở nên bí ẩn.





  Tiếp đến là Cầu Ngói chợ Lương 

 xã Hải Anh huyện Hải Hậu là 1 trong 3 cây cầu ngói cổ đẹp nhất Việt Nam, cùng cầu ngói Thanh Toàn xứ Huế và cầu Chùa biểu tượng phố cổ Hội An. Cây cầu với kiến trúc cổ, mái ngói, bắc ngang sông Trung Giang, được xây dựng từ đầu thế kỷ XVI, nằm cạnh ngôi chùa Phúc Lâm, người địa phương gọi là chùa Lương. Trải qua hơn 500 năm, cầu Ngói chùa Lương vẫn vẹn nguyên vẻ đẹp cổ kính, mộc mạc mà cuốn hút mọi du khách mỗi khi ghé qua vùng đất ven biển này. Cây cầu này gắn với Chùa Lương.


               Chùa Lương

        Chùa được xây dựng sớm nhất Quần Anh, vào khoảng cuối thế kỷ XV. Chùa làm ngay ở bắc chợ Lương nên người ta gọi là Chùa Lương, khi mới làm chùa được lợp cỏ, sau lợp ngói. Qua nhiều lần trùng tu, chùa Lương ngày càng rộng lớn, có quy mô hoàn hảo với 100 gian gồm tiền đường, thượng điện, hậu điện, hai hành lang đông tây, nhà tổ, hai dãy hậu phòng, nhà khách, gác chuông, tam quan,và hồ bán nguyệt trước chùa, chùa vẫn giữ được hét cổ truyền thống từ thế kỷ XVII – XVIII.

Chùa hiện có quy mô lớn, gồm 100 gian, mang phong cách kiến trúc dân tộc của nhiều thời đại, nhưng đậm nét nhất là phong cách nhà Nguyễn thế kỷ XVII và XVIII. Chùa dựng trên thế đất đẹp, thoáng. Trước chùa là hồ nước trong xanh, như tấm gương in bóng tam quan, “Thiên thạch đài trụ”, cùng các cây cổ thụ càng tôn vẻ đẹp của tổng thể công trình. Khuôn viên chùa Lương có thể chia làm hai khu vực gắn bó chặt chẽ với nhau.

Nổi bật hơn cả là tiền đường năm gian bảo lưu kiến trúc đậm đà thời hậu Lê. Công trình không vươn theo trục dọc (chiều cao) mà phát triển theo trục ngang (chiều rộng) nên có dáng thấp với mái ngói uốn cong mềm mại. Kiến trúc thực hiện theo kiểu: bẩy, kẻ, trụ non, câu đầu-là thứ kiến trúc tiêu biểu của hai thế kỷ 17 và 18.

Khu vực thứ hai là chùa Lương bao gồm nhà tổ Quan âm các nhà khách, tăng phòng, nhà trọ, nhà bếp… bao gồm 49 gian lớn, nhỏ cũng xây dựng theo phong cách kiến trúc cổ truyền của dân tộc. Phía Bắc chùa có hàng chục tháp mộ, gắn với tổng thể kiến trúc của ngôi chùa. Khách tham quan sẽ thấy rất thú vị trước giếng nước chùa Lương bởi sự độc đáo: Thành giếng được tạo thành bằng những chiếc cối đá xếp vòng tròn chồng từng lớp nên nhau. Nước giếng trong vắt, tinh khiết, vẫn thường dùng để đồ xôi sửa lễ cúng Phật.

Nghệ thuật điêu khắc tại chùa Lương cũng rất đặc sắc. Trên các thành phần kiến trúc, nhất là các vì của toà tiền đường tập trung chạm khắc hình tượng con rồng với nhiều tư thế: rồng chầu mặt nguyệt, rồng cuốn thuỷ, rồng vuốt râu, rồng ngậm ngọc, rồng bay, rồng cùng ngựa chim cá vui đùa, trúc hoa long. Nổi bật là hình ảnh “hổ phù” vừa oai phong vừa đẹp đẽ.

Tượng Phật trong chùa được đặt trên hệ thống cầu sàn, tạo dáng sinh động gần gũi với đời thường. Các pho tượng có kích thước lớn như A Di Đà, tứ vị Bồ tát, Bát vị kim cương, hộ pháp càng thể hiện đậm nét phong cách và tài hoa nghệ thuật. Ngoài tượng Phật có giá trị nghệ thuật còn phải kể đến 3 pho tượng Tam Thánh, tượng ông tổ khai sáng, các khám thờ, tượng thờ khác…Với khối lượng bia nhiều như thế nên tiền nhân đất Quần Anh đã phân chia thành 3 nhóm để tiện tra cứa căn cứ vào niên hiệu đời vua, bia được dựng theo các nhóm: Nhóm Hồng Thuận, nhóm Chính Hoà, nhóm Cảnh Hưng.

 


Thăm di tích nổi tiếng Nam Định xưa là Nhà thờ đổ Hải Lý (Thuộc thị trấn Cồn xưa)

Còn có tên gọi chính là nhà thờ họ "Trái tim Chúa" được xây dựng từ năm 1877, xưa kia thuộc làng chài Xương Điền. Ban đầu, nhà thờ được xây dựng rất đơn sơ, có diện tích 252m2, dài 14m, rộng 7m và được lợp bằng cỏ bổi. Từ thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX, nơi đây bị biển xâm thực nhanh chóng. Nhà thờ Trái tim Chúa được di chuyển vào sâu phía trong, cách khoảng 3 km so với vị trí cũ.

Năm 1917, nhà thờ họ Trái tim Chúa được xây dựng lần thứ 2 với quy mô lớn theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp tại vị trí hiện nay. Nhà thờ được hoàn thành vào năm 1927 với khuôn viên rộng 9.330m2, dài 47m, rộng 15m. Tháp chuông cao 27m, vòm thánh giá cao 15m với kiến trúc cửa vòm, nhiều hoa văn trang trí theo phong cách châu Âu rất công phu, tinh xảo và đẹp mắt. Nhưng với sự xâm lấn mạnh của biển và sự khắc nghiệt của thời tiết, nhà thờ Trái tim Chúa cùng một số nhà thờ khác lại phải di chuyển vào sâu trong đất liền và được xây dựng lần thứ 3.

Năm 2005, cơn bão số 7 với sức tàn phá khủng khiếp đã phá hủy toàn bộ tuyến đê bao bên ngoài, “xóa sổ” ngôi làng chài dọc bãi biển Xương Điền - Văn Lý đồng thời “cuốn” theo các nhà thờ ven biển. Trong số đó chỉ còn lại duy nhất nhà thờ họ Trái tim Chúa vẫn giữ được tháp chuông, nền và một phần tường phía Bắc như dấu tích còn sót lại hiện nay. 

    Và đây cũng là nơi dừng chân nghỉ trưa và cả đoàn ăn cơm ở nhà hàng Quý Cao bữa ăn toàn hải sản biển ngon , bổ và vừa phải .







Tiếp đến là Độc đáo kiến trúc dát vàng của nhà thờ Xương Điền.

Công trình được xây dựng nên với biết bao nhiêu tâm huyết, có đến hơn 80% kinh phí là được huy động từ sự đóng góp của bà con nhân dân công giáo. Bên cạnh đó, còn có sự giúp sức của các mạnh thường quân cũng như giáo dân quê hương đang làm ăn ở xa. Mặc dù đã được xây dựng khá lâu nhưng đến đây lúc nào cũng cảm thấy vô cùng sạch sẽ và trang nghiêm bởi hàng tuần đều có bà con giáo dân thay phiên nhau đến lau chùi, dọn dẹp. Bước vào bên trong nhà thờ, bạn sẽ thấy có 10 vì kèo, 4 hàng cột, hai hàng cột chính có độ cao 11-12m, hai hàng cột bên hông thấp hơn và được chia làm 11 gian. Phần tường ngoài được xây gạch, bên trong ốp gỗ nhằm tạo sự đồng bộ với hệ thống cột, kèo. Kiến trúc nhà thờ được xây dựng theo phong cách Gothic, được biến tấu theo phong cách phương Đông. Lượng gỗ để xây dựng nhà thờ lên đến khoảng 1.300m3, phần lớn là lim Nam Phi, gỗ dổi. Các người thợ phải mất 3 năm để hoàn thành các hạng mục gỗ, riêng phần dựng cột và chạm gỗ tốn chi phí đến hơn 4 tỷ đồng. Phần nổi bật nhất của nhà thờ  chính là ba gian cung thánh được dát vàng tuyệt đẹp.






Tiếp đến là Nhà thờ Thịnh Long (Có tên Nhà thờ đá)

        Nhà thờ Giáo xứ Thịnh Long, tọa lạc tại xã Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, là một trong những công trình tôn giáo nổi bật và lâu đời của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngôi nhà thờ hiện nay là ngôi nhà thờ thứ ba của giáo xứ, được cung hiến vào ngày 17 tháng 12 năm 2022, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của giáo xứ; mang đậm nét kiến trúc tôn giáo, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, với chiều dài 49m, rộng 29m và cao 25m. Công trình được xây dựng chủ yếu từ gỗ lim và đá khối tự nhiên, hai vật liệu bền vững, mang lại vẻ đẹp mộc mạc nhưng gần gũi. Cấu trúc nhà thờ được thiết kế theo phong cách Gothic, với các cửa sổ vòm cao, tạo không gian thoáng đãng và linh thiêng. Các tháp chuông cao vút và các chi tiết trang trí tinh xảo là điểm nhấn đặc biệt của công trình, thể hiện sự trang nghiêm và thanh thoát.

Với sự đóng góp và đồng lòng của mọi thành phần trong giáo xứ, ngôi nhà thờ mới đã được hoàn thành và cung hiến vào ngày 17 tháng 12 năm 2022. Ngôi nhà thờ thứ ba này không chỉ là nơi thờ phượng mà còn là biểu tượng cho sự đoàn kết và tình yêu thương giữa cộng đồng giáo dân tại Thịnh Long.






Và sau cùng trên đường về vào Chùa Bình A
 

        xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; tên chữ là Phúc Khánh Tự. Ngôi chùa là nơi có ngôi tượng Phật đá xanh với chiều cao 32 mét, nặng gần 3000 nghìn tấn. Ngôi tượng Phật được nhà xác lập kỷ lục Việt Nam xác nhận là ngôi tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh lớn nhất Việt Nam. Bảo tượng được khởi công kiến tạo vào năm 2013 và hoàn thành vào năm 2018, được làm từ chất liệu đá xanh tự nhiên cao 32 mét tượng trưng cho 32 tướng tốt của Đức Phật.

Chùa Bình A được bao bọc bởi cánh đồng lúa xanh mơn mởn được bồi đắp bởi con sông Đào hiền hòa. Ngôi chùa mang kiến trúc của Phật giáo xứ Huế, có sự hòa lẫn với văn hóa xứ Kinh Bắc, tạo nên một nét chấm phá riêng của một ngôi chùa xứ Huế giữa vùng đất Bắc.













 (Ngô Lê Lợi -Hà Nội  ngày 4/4/2026)