ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

Tấm chăn bông cũ - Nhớ mãi một thời gian khó

Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (Cơ sở Vĩnh Yên)

(Hồi ký những năm tháng dưới mái trường Trung học GTVT 1976 - 1980)

Lich sử về nhà trường

 

Thời kỳ Trung học: những năm 1970 là  Trường Trung học GTVT, sau đó  đến năm 1983-1990  đổi tên  Trường Trung học GTVT Khu vực I    

 

Thời kỳ Cao đẳng: Đến năm 1996, trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng GTVT theo Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong giai đoạn này, trường có cơ sở đào tạo lớn tại Vĩnh Yên (thời điểm trước năm 1997 thuộc tỉnh Vĩnh Phú, sau đó thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) nên thường được người dân và học sinh sinh viên gọi quen thuộc là Trường Cao đẳng GTVT Vĩnh Yên hoặc Cao đẳng GTVT Vĩnh Phúc.  

 

Thời kỳ Đại học (Hiện nay): Vào ngày 27/04/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 630/QĐ-TTg nâng cấp toàn bộ trường Cao đẳng GTVT thành Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải.  

     Dẫn chuyện: Từ người chiến sĩ Quân đội đến người học trò Giao thông

Sau những năm tháng cống hiến tuổi trẻ cho khói lửa chiến trường, đi qua chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử để giải phóng hoàn toàn miền Nam; tôi hoàn thành nghĩa vụ của một người thanh niên với Tổ quốc. Hành trang rời quân ngũ của tôi chẳng có gì nhiều, ngoài chiếc ba lô sờn bạc và bộ quân phục màu xanh chiến sĩ. Tôi được quân đội cho chuyển ngành và cử đi học tại trường Trung học Giao thông Vận tải Đường bộ tại vùng đất trung du Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phú.

Phần thứ nhất: Ngày tựu trường và bước ngoặt cuộc đời

     Ngày 2 tháng 4 năm 1976, tôi được quân đội cho ra Bắc an dưỡng tại Trạm đón Thường Tín (Trạm tập kết quân nhân Thường Tín cạnh Ga Thường Tín).

Đây chính là Binh trạm T3 – một đầu mối giao thương và tiếp quản quân nhân vô cùng quan trọng tại miền Bắc thời bấy giờ, nơi đón nhận, sắp xếp và điều động cán bộ, chiến sĩ, thương bệnh binh di chuyển giữa hai miền Nam - Bắc sau ngày non sông thống nhất.

Sau đó, từ giữa tháng 4 năm 1976 đến ngày 30 tháng 11 năm 1976, tôi được đưa về học tập nâng cao trình độ văn hóa tại thôn Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Hà Nam Ninh (thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh). Ở đây có vài tiểu đoàn, chủ yếu là cán bộ chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, nay được Đảng, Chính phủ và Quân đội cho trở lại miền Bắc vừa an dưỡng vừa ôn văn hóa để thi vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp nhằm chuẩn bị lực lượng xây dựng đất nước. Cuộc sống ngày ấy đầy sôi nổi, anh em sáng miệt mài ôn chữ, chiều lại hồ hởi tham gia lao động sản xuất, gánh đất xây dựng  tại nhà máy gạch Sông Tranh bên bờ sông Hoàng Long lộng gió.

    Khi đó tôi có hai nguyện vọng: Một là Đại học Giao thông Vận tải, hai là Trung học Giao thông Vận tải. Thi không đỗ nguyện vọng một, tôi được cử về trường Trung học GTVT Vĩnh Yên theo nguyện vọng hai.

Ngày 1 tháng 12 năm 1976, tôi chính thức nhập trường, bắt đầu một trang đời mới.

 Phần thứ hai: Mái trường thân yêu bên bờ Đầm Vạc

     Ngày tôi về tựu trường, cơ sở vật chất còn vô cùng gian khó. Khu giảng đường chính thì kiên cố, nhưng khu nội trú của lớp chỉ lợp mái lá cọ tạm bợ, xen kẽ với những lớp học tranh tre nứa lá. Tất cả hạ tầng thời kỳ này đều do chính thầy cô và học sinh cùng nhau tăng gia, sản xuất vật liệu và đóng góp từng ngày công lao động để xây dựng nên.

Đi từ ga xe lửa Vĩnh Yên thời kỳ đó về trường, con đường gần nhất và độc đạo là phải băng qua một cái đầm rất lớn – đó là Đầm Vạc. Ngày ấy, khu vực Đầm Vạc còn hoang sơ lắm, diện tích mặt nước rộng lớn, lau sậy mọc um tùm chứ chưa hề có bóng dáng những cây cầu bê tông hay khu đô thị hiện đại như bây giờ. Mọi sinh hoạt, giao thương từ trường ra trung thị xã Vĩnh Yên để mua sắm nhu yếu phẩm, đi chợ, bắt tàu xe xuôi ngược, học sinh và thầy cô bắt buộc phải đi bộ ra bến đò để qua đầm bằng một con đò ngang độc đạo.

    Kỷ niệm vào mùa mưa, nước Đầm Vạc dâng cao, sóng lớn khiến việc đi đò vô cùng tròng trành, nguy hiểm. Ngược lại, vào những đêm trăng sáng, những chuyến đò chở đầy học sinh giao thông lại rất yên bình, lãng mạn.

Nếu ai từ thị xã về trường muộn mà lỡ chuyến đò cuối thì coi như "tiêu đời", phải đứng bên này bờ hú gọi khản cả cổ khẩn khoản xin đò, hoặc tìm cách ngủ nhờ nhà dân, may mắn lắm mới chờ được một chiếc thuyền chài đi đánh cá đêm để xin đi nhờ về trường.

Sinh hoạt tập thể thời kỳ bao cấp (1976–1980) đúng là một khúc ca dở khóc dở cười. Tiêu chuẩn ăn uống của học sinh đều được phân phối theo tem phiếu qua nhà bếp tập thể. Bữa sáng là một chiếc bánh mì tiêu chuẩn nặng 250gr làm từ bột mì mậu dịch, ruột đặc quánh và hơi chua; nhận về rồi ban cán sự lớp  phải chia làm ba phần gần bằng nhau cho ba học sinh.

 Ai có điều kiện hơn thì ra cổng hậu nhà trường mua thêm đĩa sắn luộc giá 2 hào; nếu bỏ ra 3 hào thì có thêm tí mỡ lợn trộn vào cải thiện cái dạ dày buổi sáng.

 Còn đa số chúng tôi chỉ nuốt vội phần bánh mì của mình cho kịp tiếng trống, tiếng kẻng báo giờ lên lớp.

Bữa trưa và bữa tối mới thực sự là nỗi ám ảnh mang tên "hạt bo bo". Giai đoạn cuối những năm 70 là đỉnh điểm của sự thiếu thốn. Việc ăn cơm gạo trắng hoàn toàn là một "xa xỉ phẩm" chỉ có vào những ngày đầu tháng khi trường mới lĩnh gạo mậu dịch về, hoặc vào các dịp lễ, Tết. Phần lớn các bữa ăn còn lại phải độn ngũ cốc. Hạt bo bo mậu dịch thời đó rất cứng, nếu nhà bếp không ngâm kỹ và ninh lâu thì khi nấu chín ăn vào sẽ vừa dai vừa cứng, nhai mỏi rã cả quai hàm; anh em cứ trêu nhau là “nuốt vào thế nào thì đi ra nguyên thế ấy”. Ngoài bo bo, nhà bếp còn độn thêm sắn khô hoặc khoai lang, cơm độn nhiều đến mức học sinh phải đi "mót" từng hạt cơm gạo trắng hiếm hoi trong tiêu chuẩn cơm của mình.

Canh tập thể thường chỉ có một bát nước canh luộc rau muống già đã đổi màu, được học sinh gọi vui là "canh đại dương" vì nước mênh mông mà rau thì thưa thớt, hầu như không có mỡ. Thỉnh thoảng mới có một vài miếng thịt mỡ thái mỏng dính hoặc đậu phụ kho mặn chát để ăn kèm cho trôi cơm.

Để cải thiện bữa ăn, thầy và trò phải tranh thủ giờ rảnh để tăng gia sản xuất. Học sinh cuốc đất trồng rau quanh khu nội trú, chủ yếu là rau muống dễ trồng, ít chăm bón mà rất tốt, rau thừa ăn không hết. Còn thầy cô thì tăng gia trồng các loại rau cao cấp hơn và nuôi thêm lợn, gà, chó... quanh khu nội trú. Cái đói, cái khổ của thời bao cấp ấy gian nan là vậy nhưng lại là chất xúc tác khiến cho tình bạn, tình đồng chí của các học sinh giao thông năm xưa trở nên gắn bó, thiêng liêng vô cùng.

 Thời kỳ đó, học sinh thực hiện nghĩa vụ xây dựng trường với chỉ tiêu 300 viên gạch mộc/năm. Vào kỳ nghỉ hè, chúng tôi tập trung sớm vài tuần tại khu đất của trường để tự tay đúc gạch thủ công. Tuy có sự hỗ trợ về nguyên vật liệu và hướng dẫn kỹ thuật, công việc vẫn đòi hỏi tính kiên nhẫn và đôi tay khéo léo. Dưới cái nóng như đổ lửa, tinh thần lao động hăng say của mọi người vẫn không hề giảm nhiệt. Kết quả, cả lớp đã xuất sắc hoàn thành kế hoạch khi toàn bộ sản phẩm nghiệm thu đều đạt chất lượng cao.

Tôi nhớ lại khi ở đơn vị cũ, tôi là Hạ sĩ hưởng sinh hoạt phí là 9 đồng/tháng. Nhưng khi chuyển ngành về trường, chế độ quân nhân giúp tôi được hưởng 21 đồng/tháng. Tiền ăn trừ thẳng vào bếp mất 15 đồng cho tháng 30 ngày và 15,5 đồng cho tháng 31 ngày, vị chi tiền tiêu vặt chỉ còn chừng 4,5 đến 5 đồng một tháng. Mỗi tháng cố gắng tiết kiệm tiêu trong vòng 10 đồng, nên mẹ tôi chắt chiu cho thêm 5 đồng sinh hoạt phí từ ngày vào đến khi ra trường. Cứ hai tháng một lần mẹ lại gửi lên 10 đồng, tôi lại đi bộ ra bưu điện Vĩnh Yên lĩnh về tiêu – số tiền đó là cả một bầu trời tình thương của mẹ.

Vì sinh hoạt phí ít, tôi dồn hết tâm trí vào việc học. Năm đầu tiên học văn hóa, tôi luôn đứng trong tốp 10 của lớp và được bầu làm tổ trưởng tổ học tập. Đêm đêm dưới ánh đèn dầu tù mù, tôi lại ngồi hướng dẫn bài vở cho các bác lớn tuổi trong lớp. Đền đáp lại tấm lòng của cậu hạ sĩ trẻ, các bác lúc thì cho cái bánh mì giá 4 hào, lúc thì chiếc bánh xốp giá 2 hào. Gần như tất cả các buổi hướng dẫn tôi đều có quà, gom góp lại cũng đủ tiền ăn sáng hay thỉnh thoảng mua bát chè tươi 5 xu uống.

Cứ các buổi sáng, tôi lại xung phong cùng một người bạn xách  thùng nhôm Romine dung tích 20 lít xuống nhà ăn lấy nước sinh hoạt cho cả phòng. Nhờ sự chăm chỉ ấy, anh lớp trưởng luôn ưu ái chia cho tôi phần khúc giữa của chiếc bánh mì – phần bao giờ cũng nhỉnh hơn hai phần đầu đuôi.

Những buổi chiều muộn, thỉnh thoảng lại được các anh hay bạn bè chèo kéo đi uống bát nước chè tươi giá 5 xu, nhấm nháp thêm 5 xu lạc rang bùi bùi nơi quán cóc, bấy nhiêu thôi mà thấy cuộc đời hạnh phúc, đủ đầy hơn những ngày thường.

Trong suốt hơn ba năm miệt mài đèn sách dưới mái trường trung cấp, có một mùa hè và một mùa tết tôi đã tự nguyện xin ở lại trường, không về quê, để nhận nhiệm vụ 'trông hè, trông tết' – bảo quản quân tư trang, hòm xiểng cho anh em trong lớp. Ngày ấy gian khổ nhưng tình nghĩa lắm. Đợt nghỉ tết hai tuần, tôi được tập thể lớp trích quỹ cho 15 đồng; còn ba tháng hè ròng rã thì được nhận 30 đồng. Thú thực, đồng sinh hoạt phí  ít ỏi ấy lúc bấy giờ là cả một nguồn phụ thu quý giá, bản thân tôi rất muốn xung phong nhận thêm những lần sau. Những năm đó , ai cũng có một hoàn cảnh, lớp tôi ngày ấy nhiều anh em còn chật vật, khó khăn hơn mình nhiều. Hiểu được điều đó, ban cán sự lớp đã luân phiên chọn cử những người khác, để ai cũng có cơ hội kiếm thêm chút thu nhập trang trải cuộc sống. Sự sẻ chia thầm lặng ấy chính là cái tình, cái nghĩa thiêng liêng của một thời gian khó mà tôi chẳng thể nào quên.

Nhớ nhất vùng đất trung du bấy giờ là khi mùa đông chạm ngõ. Mỗi khi cơn gió heo may đầu mùa tràn về mang theo cái rét ngọt sắc của miền Bắc, lòng tôi lại bồi hồi, chợt nhớ về những vùng đất, những cánh rừng từng hành quân qua từ Lào, Campuchia đến miền Đông, miền Tây Nam Bộ – nơi chỉ có cái nắng thiêu đốt của mùa khô cháy da. Giờ đây, đứng giữa miền trung du gian khó, cái lạnh phương Bắc lại mang một phong vị rất riêng.

    Sáng sớm, sương mù lất phất giăng màn trên các hàng cây quanh lớp học. Khi luồng gió mùa Đông Bắc tràn về kéo theo những đợt mưa phùn mờ mịt, những đồi cọ, đồi chè xanh ngắt ngày thường bỗng ẩn hiện thấp thoáng trong làn sương mây dày đặc sà xuống ôm lấy đỉnh đồi tròn như bát úp. Đi trên con đường đất đỏ trung du vào sáng sớm, cái lạnh cứ quấn quýt dưới chân, mơn man trên da thịt khiến người ta phải so vai rụt cổ vì chưa kịp quen với hơi giá. Đặc sản của trung du chính là những rừng cọ bạt ngàn. Khi gió bấc tràn về, những tàu cọ già xòe rộng bắt đầu khua vào nhau tạo nên âm thanh xào xạc...

 Phần thứ ba: Học trên giảng đường  và những mùa thực tập

     Vượt qua năm đầu tiên học văn hóa cơ bản, sang năm thứ hai, chúng tôi bắt đầu bước vào học các môn chuyên môn sâu của ngành vận tải đường bộ.

 Đến năm 1978, chúng tôi đi thực tập tại Nhà máy ô tô Hà Nội - Hà Tây. Tại đây, chúng tôi được học và thực hành tất cả các khâu thực tế: Từ phòng  điều độ, rồi trực tiếp đứng phụ xe buýt đông đúc thời bao cấp, đến việc ngồi tại Phòng Kế hoạch, Phòng Vật tư xăng dầu để tiếp cận lập kế hoạch ,  quy trình quản lý cấp phát vật tư nhiên liệu, lốp xe… Không chỉ vậy, chúng tôi còn xuống xưởng của nhà máy sửa chữa ô tô để trực tiếp tham gia vào các quá trình học và thực tế việc trung tu, đại tu động cơ và xe ô tô.

Đến năm 1979, chuẩn bị ra trường, tôi cùng đoàn thực tập được phân về thực tập tại Công ty Ô tô Thủy bộ Vĩnh Phú. Đối mặt với bối cảnh thực tiễn tại đây, tôi và anh em trong đoàn đã đưa ra một sáng kiến mang tính đề tài thực tiễn: Lập kế hoạch bảo dưỡng định ngạch trung đại tu  cho hơn 100 chiếc xe ô tô của công ty, quy định chi tiết từ khâu duy tu thường xuyên, trung tu cho đến đại tu định kỳ.

Đề tài thành công xuất sắc và áp dụng hiệu quả vào sản xuất, ban giám đốc công ty đã thưởng cho đoàn thực tập số tiền lên tới 30 đồng. Khoản thưởng rất lớn thời bấy giờ khiến anh em mừng rơi nước mắt.

    Thấm thoắt hơn 3 năm học tập cũng đến ngày hái quả chúng tôi bước vào kỳ thi tốt nghiệp cuối khóa. Cuối tháng 5 năm 1980, quyết định phân công công tác chính thức , tôi được điều động về UBND tỉnh Hà Tuyên  và tỉnh điều về  Sở Giao thông Vận tải Hà Tuyên ; sở GTVT Hà Tuyên  điều động tôi lên UBND huyện Hoàng Su Phì, ngày 1/6/1980 UBND huyện điều tôi nhận công tác ở phòng GTVT Hoàng su Phì, là huyện vùng cao biên giới khi đó là tuyến I của tỉnh Hà Tuyên đang có chiến sự rất ác liệt.

 Phần kết: Tấm chăn bông cũ - Nhớ mãi một thời gian khó

     Những ngày cuối cùng ở khu nội trú bên bờ Đầm Vạc trước khi xếp ba lô đi nhận nhiệm vụ mới là vùng đang có chiến sự ác liệt, lòng tôi trĩu nặng một nỗi niềm lưu luyến. Tôi nhìn lại góc giường ký túc xá, góc tường sát vách là chiếc giường tầng, tôi nằm tầng trên, còn Nguyễn Đức Bẩy nằm tầng dưới, chợt nhìn thấy tấm chăn bông cũ mà Bẩy để bên cạnh mình.

Rời quân ngũ, gia tài của tôi chẳng có gì ngoài mấy bộ quần áo chiến sĩ bạc màu và chiếc ba lô sờn góc, một cái chăn đơn mỏng manh. Giường nội trú tầng hai ngày ấy chỉ là tấm phản gỗ ghép sơ sài. Những mùa đông gió lùa qua vách đất trát rơm cái lạnh tê tái. Tôi nhớ như in những đêm đầu đông, cái lạnh từ khe vách, mặt đất bốc lên, xuyên qua manh chiếu mỏng khiến tôi co quắp, thao thức không tài nào chợp mắt. Lúc bấy giờ, một tấm chăn ấm là cả một ước mơ xa xỉ.

Thế rồi, người bạn tầng dưới – cũng là một học sinh nghèo quê Thái Bình – đã lặng lẽ sẻ chia cái rét cùng tôi. Bạn ấy có một tấm chăn bông nhưng đã cũ. Gọi là chăn bông nhưng vỏ chăn đã sờn rách vài chỗ, lộ cả lớp bông gạo bên trong đã ngả màu ố vàng và bết lại vì dùng qua nhiều năm tháng. Nhưng trong mắt chúng tôi lúc đó, tấm chăn ấy quý giá chẳng kém gì một gia tài.

Cứ đêm đến, hai thằng lại xuống tầng dưới, bảo nhau dồn chiếu lại, nằm sát vào nhau trên chiếc giường chật hẹp rồi cùng đắp chung tấm chăn bông cũ kỹ ấy. Chiếc chăn không đủ rộng để phủ kín cả hai đứa, đêm nằm gió lùa, đứa này co thì đứa kia lại hở chân. Thế nhưng, bằng một cách kỳ diệu nào đó, cái lớp bông gạo cũ kỹ, thô ráp ấy lại sưởi ấm được hai thân hình gầy gò đang run lên vì lạnh. Trong cái không gian chật chội và sực mùi sương giá ấy, chúng tôi vừa đắp chăn, vừa rầm rì kể cho nhau nghe về những ngày tháng ở đơn vị cũ, về quê nhà, và về những ước mơ sau khi ra trường.

Ba năm sáu tháng học Trung cấp rồi cũng trôi qua. Chúng tôi tốt nghiệp, mỗi người đi một ngả theo sự phân công của tổ chức để tiếp tục cống hiến cho đất nước. Suốt mấy năm học, tấm chăn ấy không chỉ sưởi ấm cho riêng tôi, mà vào những đêm đông rét mướt đỉnh điểm, tôi và những người bạn thân thiết trong tổ học tập, cùng lớp lại đắp chung, san sẻ cho nhau từng chút hơi ấm. Những người bạn thân ngày ấy, cùng chung nồi rau muống luộc do tăng gia cải thiện thêm, bạn cho đĩa củ sắn luộc , cùng nhường nhau khúc giữa cái bánh mì mậu dịch, nay mỗi người một ngả theo sự điều động của Tổ quốc.

Bạn về công tác ở vùng than Đông Bắc; tôi lên miền núi, nhưng tình bạn gắn liền với tấm chăn bông sờn rách và những tháng năm gian khổ bên bờ Đầm Vạc ấy sẽ mãi là phần ký ức thiêng liêng nhất trong cuộc đời tôi...

Thời gian đã lùi xa mấy mươi năm, cuộc sống bây giờ đã đủ đầy và hiện đại hơn trước rất nhiều. Mỗi khi đông về, phòng ốc đều có chăn ga đệm ấm, có đèn sưởi điều hòa che chở. Thế nhưng, chưa một lần nào trong đời tôi quên được cái mùi sương giá trộn lẫn mùi bông gạo cũ của những năm 70 dưới mái trường GTVT bên bờ Đầm Vạc ấy.

Tấm chăn bông của Bẩy năm ấy không chỉ sưởi ấm thân thể tôi qua những mùa đông nghèo đói của thời sinh viên, mà nó còn sưởi ấm cả tâm hồn tôi suốt cuộc đời về sau. Nó là biểu tượng của một thời gian khó nhưng thanh cao, dạy cho tôi biết trân trọng tình người, tình bạn – những giá trị thiêng liêng nhất mà dù có đi qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn nguyện nâng niu và giữ vẹn nguyên trong ký ức của mình./.

 (Hà Nội -Kỉ niệm ngày giải phóng thủ đô năm 2026)

 

 

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Cẩm nang Phật Pháp và Tâm linh cho người mới học Tu Phật (Từ Tâm linh đến Chánh Pháp)

 

(Tam Thánh Phật )

  

Khi bước chân vào con đường tu học Phật pháp tại gia là một nhân duyên lành lớn lao. Để việc tu tập có kết quả, mang lại sự an vui, tự tại đích thực và tránh sa vào mê tín ngay trong đời này , chúng ta cần thấu suốt các hộ niệm cốt tủy dưới đây.

 I. PHÂN BIỆT RÕ GIỮA "TÂM LINH" VÀ "PHẬT PHÁP CHÁNH TÍN"

Người mới tu rất dễ nhầm lẫn hoặc đánh đồng hai khái niệm này, dẫn đến việc đi chệch hướng:

  • Tâm linh (Nói chung): Là niềm tin về thế giới vô hình (thần linh, vong hồn, cõi âm, tiên tri...). Tâm linh mang tính trải nghiệm chủ quan, có lúc dựa trên nỗi sợ hãi hoặc mong cầu sự hộ thuẫn, ban phước giáng họa từ các thế lực bên ngoài.
  • Phật pháp (Chánh tín): Là con đường Tỉnh thức và Trí tuệ. Phật giáo không công nhận một vị thần linh tối cao định đoạt số phận con người. Phật pháp dạy ta quay về bên trong, hiểu rõ tâm mình, tự chuyển hóa nỗi khổ niềm đau bằng sự tu tập và nỗ lực của chính bản thân.

 II. BA NỀN TẢNG CỐT LÕI NGƯỜI TU TẠI GIA PHẢI KHẮC GHI

Người mới tu cần nắm vững 3 chiếc "kiềng ba chân" này để định hình tư duy đúng đắn (Chánh kiến):

1. Định luật Nhân quả và Nghiệp chướng (Bản đồ số phận)

  • Không có ai ban phước hay giáng họa cho bạn. Mọi việc xảy ra hôm nay (Quả) từ con cái không như ý, làm ăn khó khăn... đều do những hành vi, lời nói, suy nghĩ trong quá khứ (Hạt giống/Nhân) tạo thành. Tu tập chính là chủ động Gieo nhân lành để nhận quả ngọt, thay vì đi cầu xin cắt giảm nghiệp quả.
  • Lưu ý quan trọng: Khi bắt đầu tu hành nghiêm túc, chuyển tâm hướng thiện, thì các nghiệp xấu từ nhiều đời kiếp (vốn đang ngủ yên) sẽ có xu hướng "chín muồi" và phát khởi sớm hơn. Hiện tượng này giống như việc quét dọn một ngôi nhà cũ: khi bắt đầu quét (tu tập), bụi bặm (nghiệp chướng) sẽ bay mù mịt và làm ngôi nhà trông bừa bộn hơn lúc chưa dọn. Đây là quá trình "chuyển nghiệp nặng thành nghiệp nhẹ" để trả dần ở hiện tại, người tu cần hoan hỷ đón nhận chứ không nên thối chí, nản lòng.

2. Luật Vô thường (Bản chất của thế giới)

  • Mọi sự vật, hiện tượng, hoàn cảnh và cảm xúc trên đời đều thay đổi liên tục, không có gì là mãi mãi. Hiểu về Vô thường để ta không bám chấp khi thuận cảnh (hạnh phúc, danh lợi), và không tuyệt vọng, oán hận khi gặp nghịch cảnh.

3. Tinh thần Tự lực và Sức mạnh của Đạo Hiếu

  • Tinh thần tự lực: Đức Phật là bậc Thầy dẫn đường (Đạo sư), không phải vị thần ban phát. Bạn phải tự đi trên đôi chân của mình bằng cách sửa đổi hành vi (Tu) và mở mang nhận thức (Tuệ). Người tu Phật tại gia không thể tách rời bổn phận thế gian; Đạo Phật tối thượng chính là Đạo Hiếu.
  • Sức mạnh huyết thống: Sự kết nối tâm linh giữa con cháu và tổ tiên là có thật. Ý nguyện tìm về cội nguồn, sự hiếu thảo và việc bền bỉ hồi hướng công đức cho cửu huyền thất tổ chính là nguồn năng lượng gia trì vô hạn, giúp kích hoạt phước báu dòng họ để che chở, bảo bọc con cháu vượt qua sóng gió cuộc đời.

 III. LỘ TRÌNH 3 BƯỚC CHO NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU

Tu tập không phải là điều gì quá cao siêu, hãy bắt đầu bằng những việc thiết thực nhất trong đời sống hàng ngày:

  • Bước 1: Giữ gìn Đạo đức (Giới)
    Hạn chế tối đa việc tạo nghiệp xấu thông qua việc thực hành 5 điều đạo đức cơ bản: Không sát sinh (Tôn trọng sự sống); Không trộm cắp (Tôn trọng tài sản của người khác); Không tà dâm (Chung thủy, bảo vệ hạnh phúc gia đình); Không nói dối (Nói lời chân thật, xây dựng); Không uống rượu, dùng chất gây nghiện (Giữ tâm trí luôn tỉnh táo).
  • Bước 2: Chuyển hóa Tâm thức (Định)
    Thanh lọc tâm bằng cách giảm bớt Tham (tham lam, mong cầu quá mức), Sân (nóng giận, thù hận), Si (mê muội, thiếu hiểu biết). Thực hành tỉnh thức bằng cách dành 15–30 phút mỗi ngày để ngồi thiền tụng kinh, hoặc đơn giản là tập trung vào hơi thở để tâm trí được lắng dịu.
  • Bước 3: Phát triển Trí tuệ và Tình thương (Tuệ)
    Học Pháp (Văn) thông qua đọc sách Phật giáo cơ bản, nghe bài giảng của các bậc Thầy có uy tín (chánh pháp). Tư duy (Tư) bằng cách chiêm nghiệm những điều đã học vào chính cuộc sống của mình. Hành động (Tu) bằng cách lan tỏa lòng tốt, giúp đỡ mọi người (Bố thí) và bao dung trước lỗi lầm của người khác (Từ bi).

 IV. CÁCH ĐỐI TRỊ CÁC CẢNH GIỚI CỦA TÂM KHI HÀNH TRÌ

Trong quá trình trì chú (như Chú Đại Bi) hoặc niệm Phật, khi tâm bắt đầu lắng dịu và có định lực (trạng thái Cận định), các giác quan sẽ trở nên rất nhạy bén. Bạn có thể gặp các hiện tượng âm thanh lạ như: tiếng vang dội ngược như có nhiều người cùng niệm (tiếng dội từ tiềm thức), tiếng ve kêu rì rào (thay đổi dòng năng lượng nội tai), tiếng chim hót lanh lảnh... Khi ngừng niệm thì các hiện tượng này cũng biến mất.

Quy tắc vàng của Tổ sư Ấn Quang truyền lại để hành giả không đi chệch hướng là: "Bất tác thánh giải" (Không coi đó là chứng đắc).

  • Biết nhưng không dính mắc: Khi có hiện tượng lạ vang lên, cứ biết như vậy rồi nhẹ nhàng đưa tâm trở lại với danh hiệu Phật. Không cần tìm hiểu nó từ đâu đến, cũng không cần mong cầu nó xuất hiện lại.
  • Không sinh tâm vui mừng hay sợ hãi: Nếu thấy thích thú hoặc sợ hãi, tâm bạn sẽ bị động, làm mất đi sự thanh tịnh của câu niệm Phật. Hãy nhớ các hiện tượng đó chỉ là "hoa cỏ bên đường", không phải cái đích của người tu.

 V. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH KHI TU TẬP CHO NGƯỜI ĐAU KHỚP VÀ TIM MẠCH

Người tu hành lớn tuổi thường đối mặt với các bệnh lý về xương khớp và tim mạch. Để việc tăng thời lượng tu tập và thiền định đạt kết quả mà không ảnh hưởng đến thân bệnh, cần khéo léo nương theo sức khỏe của thân căn:

1. Lợi thế từ môi trường và khí hậu

  • Người bị xương khớp và tim mạch rất sợ cái lạnh thấu xương hay những đợt gió mùa, bởi thời tiết lạnh dễ làm co mạch máu, dịch khớp đậm đặc, gây tăng huyết áp đột ngột và đau nhức khớp âm ỉ.
  • Khi có duyên lành chuyển vào sinh sống ở những nơi có khí hậu ấm áp quanh năm (như miền Nam), nhiệt độ ổn định sẽ giúp các mạch máu lưu thông tốt hơn, giảm hẳn hiện tượng khô khớp, cứng khớp. Không gian thoáng đãng, gần công viên, hồ nước điều hòa sẽ là "liều thuốc tự nhiên" giảm bớt áp lực rất tốt cho hệ tim mạch.

2. Phương pháp Thiền niệm Phật kết hợp Kinh hành (Đi thiền)

  • Tọa thiền linh hoạt: Người bị đau khớp gối tuyệt đối không nên cố ép mình ngồi kiết già hoặc bán già quá lâu, dễ gây tổn thương thêm sụn khớp. Hành giả hoàn toàn có thể ngồi trên ghế tựa thả lỏng hoặc ngồi trên nệm cao vừa phải để cột sống thẳng thẳng và không gây áp lực lên khớp gối.
  • Lắng nghe hệ tim mạch: Khi ngồi thiền, hãy thả lỏng toàn thân, nhắm hờ mắt và hướng tâm trí vào sự bình an. Tuyệt đối không niệm Phật quá nhanh hay dồn dập (dễ gây hụt hơi, loạn nhịp tim). Hãy niệm thong dong, rõ ràng theo từng hơi thở, để nhịp tim tự động chậm lại một cách tự nhiên.
  • Kinh hành dưỡng tim và khớp: Nên kết hợp ngồi thiền với đi kinh hành (đi thiền). Việc bước đi chậm rãi, thư thái trong không gian trong lành vừa giúp các khớp gối giữ được sự linh hoạt, vừa điều hòa huyết áp, dưỡng tim mạch và nâng đỡ sức khỏe thể chất.

 VI. TRÌNH TỰ NGHI THỨC HẠ KHÓA CHUẨN MỰC TẠI GIA

Một sai lầm phổ biến là người tu chỉ giữ "thời khóa trên bàn thờ" chứ chưa đem vào "thời khóa cuộc đời", tu nhưng lòng vẫn đầy mong cầu và lo lắng. Để đạt được sự an vui tự tại, khi kết thúc buổi tu (trì chú/niệm Phật), hãy thực hiện theo đúng trình tự: Tụng kệ hồi hướng \(\rightarrow \) Khấn nguyện trước ban Phật \(\rightarrow \) Khấn nguyện trước ban Thần linh, Gia tiên \(\rightarrow \) Lạy hạ khóa.

Bước 1: Chắp tay tụng Bài Kệ Hồi Hướng Kinh Điển (Tịnh Độ Tông)

(Tụng ngay sau khi dứt tiếng niệm Phật/trì chú với giọng trầm ấm, đều đặn)

 Đọc Bài Kệ Hồi Hướng & Tứ Hoằng Thệ Nguyện

"Nguyện đem công đức này
Hồi hướng về khắp cả
Đệ tử và chúng sinh
Đều trọn thành Phật Đạo."

Chúng sinh vô biên thề nguyện độ
Phiền não vô tận thề nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thề nguyện học
Phật đạo vô thượng thề nguyện thành.

(Chắp tay xá 3 xá, đọc Nam Mô A Di Đà Phật 3 lần)

Bước 2: Đọc Lời Khấn Tri Ân & Nguyện Cầu Trước Ban Phật

"Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần).
Con xin thành kính tri ân công đức sâu dày của mười phương ba đời chư Phật, chư Đại Bồ Tát, cùng chư vị Linh thần Hộ pháp, Thiện thần đã từ bi gia hộ cho đạo tràng tại gia của con được thanh tịnh, trang nghiêm.

Con xin mang toàn bộ phước báu trì chú, niệm Phật trong thời khóa này để hồi hướng về Tây Phương Cực Lạc, trang nghiêm Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Đồng thời, con xin hồi hướng phần công đức lành này cho cửu huyền thất tổ và gia quyến chúng con.

Cúi xin chư Phật từ bi thùy từ gia hộ cho đại gia đình chúng con luôn được thân tâm an lạc, tiêu trừ chướng ngại, bệnh tật tiêu tan. Gia hộ cho các con, các cháu trong nhà được tiêu trừ nghiệp chướng, khai mầm trí tuệ, thức tỉnh lương tri; nguyện cho các con các cháu gặp được thiện tri thức dắt lối, công việc hanh thông, lỗi lầm được chuyển hóa, biết sợ nhân quả và kết duyên sâu dày với Phật pháp. Nguyện đến lâm chung, con cùng gia quyến đồng được chư Phật tiếp dẫn vãng sinh về thế giới Cực Lạc."

Bước 3: Lời Khấn Trước Ban Thần Linh & Gia Tiên

(Xoay người sang hướng ban thờ Thần linh và Tổ tiên)

"Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần).
Kính lạy Bản gia Thổ công, Thần linh chúa đất, Thần hoàng bản xứ cai quản đất này. Kính lạy Anh linh Tổ tiên, Cửu huyền thất tổ, tiên nhân nội ngoại hai họ.

Con vừa hoàn thành thời khóa tu tập Tịnh độ hằng ngày trước ban Phật. Con xin dâng tấm lòng thành kính và phần phước báu niệm Phật tinh tấn này để kính dâng, cúng nhường và chia sẻ năng lượng lành đến chư vị Thần linh cùng Tổ tiên. Nhờ thần lực gia trì của câu hồng danh Phật, nguyện xin Thần linh tăng thêm oai đức; anh linh của Tổ tiên được nhẹ nhàng siêu thoát, hướng về Phật pháp.

Cúi xin Tổ tiên linh thiêng tiếp tục thùy từ chứng giám, che chở phù hộ độ trì cho con cháu các thế hệ trong gia đình luôn được mạnh khỏe, bình an, công việc hanh thông, tai qua nạn khỏi, lỗi lầm được thức tỉnh chuyển hóa, may mắn cát tường."

Bước 4: Lạy Hạ Khóa

Hướng về ban Phật lạy 3 lạy trang nghiêm (đại diện kính lễ Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng) rồi lui ra.

  • Mẹo giữ sức khỏe tuổi già khi lễ bái: Khi lạy xuống và đứng lên cần làm thật chậm rãi, kết hợp thở ra khi cúi xuống và hít vào khi đứng lên để tránh bị chóng mặt do thay đổi tư thế đột ngột. Nếu có những ngày cơ thể quá mệt hoặc đau khớp gối đau chân, hành giả có thể đứng thẳng chắp tay xá 3 xá (cúi gập người nhẹ nhàng khoảng 45 độ) thay vì lạy, cốt tủy vẫn là ở tâm thành kính.

 VII. NHỮNG SAI LẦM PHÒNG TRÁNH VÀ BÍ QUYẾT TỰ TẠI

1. Các sai lầm cần phòng tránh:

  • Tu là để cầu tài lộc, danh vọng: Phật pháp hướng đến sự buông bỏ tham ái và tìm bình an. Nếu đi chùa chỉ để xin giàu sang, trúng số thì đó là Mê tín cầu xin, không phải tu Phật.
  • Sa đà vào bói toán, cúng bái giải hạn: Đốt vàng mã, xem ngày giờ, cúng sao giải hạn... là tín nghĩa dân gian pha tạp, không có trong cốt tủy Phật giáo. Cách giải hạn duy nhất là sám hối và làm việc thiện.
  • Cực đoan, tách biệt xã hội: Tu tập là để sống tốt hơn với gia đình và xã hội. Trốn tránh trách nhiệm, bỏ bê công việc hay ép buộc người thân phải theo mình là tu sai phương pháp.

2. Bí quyết hồi hướng để đạt được sự "An vui tự tại":

  • Hồi hướng với tâm xả ly (Không bám chấp): Khi bạn cầu cho con cháu bình an, sửa lỗi mà thực tế chúng vẫn phạm lỗi, tâm bạn liền sinh lo lắng. Đó gọi là hồi hướng chưa trọn vẹn (vẫn còn cái "Tôi" và sự mong cầu điều khiển). Để đạt được sự tự tại, sau khi đọc lời hồi hướng, hãy buông kết quả ra và giao phó tất cả cho nhân quả cùng lòng từ bi của Đức Phật.
  • Thay vì cầu "bình an", hãy cầu "giác ngộ": Việc cầu bình an hay thuận lợi làm ăn chỉ là cái phước tạm thời ở thế gian. Hãy hồi hướng cầu cho con cháu gặp được thiện tri thức, tiêu trừ nghiệp chướng, thức tỉnh lương tri và kết duyên sâu dày với Tam Bảo. Khi một người có trí tuệ và biết sợ nhân quả, tự khắc họ sẽ biết cách sống bình an.
  • Thực hành "Niệm Phật trong nghịch cảnh" và lúc ốm đau:
    • Lúc làm ăn khó khăn, lúc con cái làm mình giận dữ, đó mới chính là lúc cần lôi câu niệm Phật ra để giữ mình không khởi tâm sân hận. Niệm Phật giữ được tâm bình thản giữa bão giông mới là định lực đích thực.
    • Nếu mệt mỏi hoặc ốm đau không thể thực hiện khóa lễ dài, hành giả hãy linh hoạt áp dụng "Phép Thập Niệm": thay nước, thắp hương và trì niệm đúng 10 danh hiệu A Di Đà Phật thật nhiếp tâm. Nếu quá mệt không thể ngồi dậy, hoàn toàn có thể nằm trên giường niệm thầm trong tâm (không niệm thành tiếng để tránh tổn khí), quán tưởng Đức Phật đang phóng hào quang che chở cho mình.

Lời kết:

        Tu tập là một hành trình dài, tính bằng sự thay đổi trong tâm tính của bạn qua từng ngày: bớt giận hơn một chút, bao dung hơn một chút, bình an hơn một chút. Tâm có phẳng lặng và an vui, hoàn cảnh xung quanh tự khắc sẽ xoay chuyển theo hướng tốt đẹp nhất. Chúc bạn luôn kiên trì và gặp nhiều hỷ lạc trên con đường Chánh pháp!

(Ngô Lê Lợi -Hà Nội 1/10/2026)

 

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Con đường Bản Máy và Bát rượu nghĩa tình năm 1989


 ( Ảnh: Đoàn ở Hồ Tây, Hà Nội năm 1995)

    Lời đầu: 

      Khi bản thảo Hồi kí viết xong, tác giả đã gửi cho anh Nguyễn Hữu Chí;  nguyên là Phó Chủ tich, Chủ tịch UBND huyện Hoàng Su Phì để nhờ anh góp ý : 

    “Ngày 27/9/2026. Hay Lắm Anh Lợi. Đọc Hồi Ký về tuyến đường Bản Máy của anh tôi thật sự súc động. Tuy tuổi chưa cao, nhưng sức khoẻ kém nên tôi không còn được minh mẫn, sáng suốt như anh. Hỏi tôi về những chi tiết nhỏ như ngày, tháng, năm … Tôi thật sự không còn nhớ chính sác. Nhưng ký ức trong tôi thì vẫn còn nguyên.

Đúng là tôi được giao nhiệm vụ tháp tùng đoàn cán bộ cấp cao đi khảo sát tình hình biên giới. Lý do ngày ấy thật đơn giản: Bí thư Huyện uỷ nói: Cậu là người trẻ nhất trong số lãnh đạo huyện, cậu đi theo đoàn là đúng rồi. Từ trung tâm huyện tôi mang theo 1 nắm cơm rất to, ½ con gà luộc, muối, nước uống. Tất cả cho vào ba lô đeo sau lưng và hành trình đi bộ: Từ trung tâm huyện đến Bản Máy. Qua đất Chiến Phố đến Đồi Dài, tôi mời anh Mạnh và các anh dừng chân nghỉ ăn trưa. Mọi người đồng ý tất cả trú vào vườn sắn của dân để tránh nắng. Tôi lấy cơm nắm, thức ăn, nước uống mời các anh. Nhưng vì đi bộ, leo dốc một chặng đường dài, mệt nên mọi người chỉ uống nước, nằm dài trên thảm cỏ trong vườn sắn nghỉ ngơi. Anh Mạnh có nói với tôi: “Trong cuộc đời công tác, trải qua nhiều khó khăn vất vả, nhưng đây là lần đầu tớ đi bộ xa như thế này”. Tất nhiên rồi Tôi là chuyên gia quốc bộ còn mệt, huống chi các anh. Thương các anh nhiều nhưng không thể làm gì. Thế rồi chiều tối chúng tôi cũng đến đích. Đồn biên Phòng Bản Máy, chúng tôi ăn tối và qua đêm tại đây”.

Bút ký của Ngô Lê Lợi
Nguyên Trưởng phòng Giao thông - Xây dựng huyện Hoàng Su Phì

Có những chuyện xảy ra trong cuộc đời công tác tưởng như rất bình thường, vậy mà càng về sau càng thấy đáng nhớ.

Có những cuộc gặp chỉ kéo dài một bữa cơm, một cái bắt tay, một bát rượu, nhưng nhiều năm sau ngoảnh lại, mới thấy nó gắn với cả một chặng đường.

Với tôi, câu chuyện về con đường vào Bản Máy là như vậy.

Đó là câu chuyện của một con đường giữa núi rừng Hà Giang, của những năm tháng đất nước còn rất khó khăn, của những người lính biên phòng sống giữa gian khổ, và của một cuộc gặp  trải qua một thời gian sau  mới biết người đã ngồi ăn cơm, uống rượu với mình hôm ấy là ai.

Điều tôi nhớ nhất không phải chức vụ, cũng không phải những lời lẽ lớn lao.

Tôi nhớ một người đàn ông nhỏ nhắn, mặc quần áo đồng bào, một cái bắt tay rất ấm và một câu nói ngắn gọn: “Nhất trí nhé.”

Và tôi nhớ mãi một bát rượu.

 1. Từ hậu cứ Nam Sơn trở về huyện lị Hoàng Su phì.

Năm 1988, huyện Hoàng Su Phì vẫn còn đóng ở khu vực hậu cứ Nam Sơn. Đến tháng 11 năm ấy, huyện bắt đầu chuyển trở lại huyện lỵ.

Lúc đó tôi đang công tác ở Phòng Giao thông - Xây dựng huyện.

Công việc chuyển huyện lỵ trở về rất vất vả. Đường sá khó khăn, phương tiện thiếu thốn. Tôi được UBND huyện  giao hợp đồng với Sở Giao thông vận tải  và Công ty vận tải ô tô Hà Tuyên sử dụng khoảng 100 chuyến xe ZIL-130 để vận chuyển các cơ quan, vật tư, đồ đạc về huyện lỵ .

(Hậu cứ sơ tán huyện từ 1985-1988)
Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1988, công việc vận chuyển đã cơ bản hoàn thành được khoảng 80%. Nhưng sang năm 1989, vẫn còn  cơ quan vẫn tiếp tục chuyển dần về, nên sáng chiều vẫn vào ra hậu cứ kiểm tra các cơ quan chuyển về huyện.

Cùng lúc đó, công việc của Phòng Giao thông - Xây dựng vẫn phải làm. Ngoài sửa chữa tuyến tỉnh lộ, chúng tôi còn phải lo mở đường dân sinh, phục vụ đi lại, sản xuất và đời sống của đồng bào các xã vùng cao.

Những năm ấy, Hoàng Su Phì nghèo và khó khăn lắm.

Cả huyện lúc đó chỉ có khoảng 60 km tỉnh lộ 177. Đường vào các xã phần lớn là đường đất, đường dân sinh, mùa mưa đi lại rất khó khăn.

Trong thời kỳ chiến tranh, huyện đã mở một số tuyến đường phục vụ yêu cầu trước mắt.

Một tuyến từ Km 5 đi Tân Tiến dài khoảng 5,5 km.

Một tuyến khác từ Vinh Quang  dài khoảng 19 km đi qua Tụ Nhân, Chiến Phố lên gần chân Đồi Dài.

Con đường 19 km ấy chủ yếu là đường đất, nền đường rộng khoảng 3,5 đến 5 mét. Tuyến đường được mở từ mùa khô năm 1984 phục vụ chủ yếu hậu cần cho quân đội và hàng thiết yếu phục vụ Nhân dân biên giới. Đường đi được mùa khô.

 Nhưng đường đất vùng cao thì nhanh xuống cấp.

Có những đoạn xe đi được một mùa, sang mùa mưa lại hỏng.

Từ Đồi Dài đi tiếp vào Bản Máy lúc đó vẫn chưa có đường ô tô. Chỉ có đường dân sinh, đường mòn của đồng bào làm nương, rẫy.

Mỗi lần nghĩ đến việc đưa xe vào những nơi ấy, chúng tôi đều thấy trước mắt mình là cả một bài toán rất khó.

Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, ý nghĩ phải có một con đường vào Bản Máy đã hình thành trong tôi.

Tôi nghĩ đơn giản thôi: nếu sau này đất nước hòa bình, đời sống khá lên, nhất định phải làm được con đường này.

 2. Một chuyên đi cuối tháng 11 năm 1989.

Cuối tháng 11 năm 1989, Bí thư Huyện ủy Hoàng Minh Nhất gọi tôi lên phòng làm việc tại khu nhà Huyện ủy tạm trên đồi cao (trước là huyện ủy cũ khi sơ tán vào Nam Sơn đã tháo dỡ để chuyển vào hậu cứ hết).

Anh cử  tôi đi công tác kiểm tra tuyến đường từ dốc Huyện đội lên Đồi Dài và ở đại đội 1 thuộc D6 chờ nhiệm vụ tiếp.

“Mãi đến bây giờ tôi mới biết cụ thể chuyến thăm thị sát Bản Máy của đoàn cán bộ Trung ương năm xưa: Chuyến đi thực tế cuối tháng 11/1989 đến xã biên giới Bản Máy (huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Tuyên cũ) diễn ra ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 về chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội miền núi. Ở thời điểm đó, ông Nông Đức Mạnh vừa đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Dân tộc Trung ương. Đoàn công tác có 4 ủy viên Trung ương Đảng.

Dựa trên thông tin lịch sử của thời kỳ đó, chân dung của 3 vị Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (BCHTW) đi cùng đoàn gồm có: Ông Nguyễn Văn Đức : Ủy viên BCHTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tuyên (giai đoạn 1986 – 1991) người trực tiếp tháp tùng đoàn lãnh đạo Trung ương đi sát sao địa bàn biên giới trọng điểm của tỉnh  lúc bấy giờ. Ủy viên BCHTW phụ trách An ninh – Quốc phòng của Quốc hội  nhằm khảo sát an ninh phên dậu Tổ quốc. Ủy viên BCHTW phụ trách Quân khu 2.

Thời điểm năm 1989, tình hình biên giới phía Bắc (đặc biệt là mặt trận vị trí dọc Hà Tuyên như Vị Xuyên, Hoàng Su Phì) cực kỳ trọng yếu.

Chuyến đi đến một xã vùng cao hẻo lánh, đặc biệt khó khăn như Bản Máy của bốn vị Ủy viên Trung ương Đảng vào cuối năm 1989 mang ý nghĩa chiến lược: vừa trực tiếp đưa Nghị quyết 22 của Đảng vào cuộc sống, vừa kiểm tra công tác củng cố tuyến phòng thủ biên giới, đồng thời nắm bắt tâm tư, chăm lo đời sống an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây ”

Lúc ấy tôi khoảng 34 tuổi, còn trẻ, công việc thì nhiều, đi đâu cũng quen với đường núi và những chuyến đi gian khổ.

Nhưng lần này được Bí thư Hoàng Minh  Nhất dặn rất kỹ: “Nếu được bố trí  gặp đoàn cán bộ Trung ương, nếu được mời ăn cơm thì phải giữ ý, tuyệt đối không được uống say”.

Tôi hiểu ý anh.

Ngày ấy, lên vùng cao, khách quý đến nhà hay đến đơn vị, chuyện mời nhau chén rượu là rất tự nhiên. Rượu không chỉ để uống mà còn là cách đồng bào thể hiện tình cảm, sự quý trọng đối với khách.

Nhưng tôi được dặn trước, nên trong đầu đã xác định là chỉ uống xã giao.

Khoảng hơn 13 giờ, tôi được một chiếc U-oát của Huyện đội đưa lên phía Đồi Dài.

Đường trơn, lầy lội. Chiếc xe đi được một đoạn thì không thể đi tiếp. Xe lại đang bị hỏng một cầu nên càng khó vượt qua đường núi.

Tôi xuống xe và đi bộ.

Gần một giờ sau mới đến được C1.

C1 lúc ấy là một điểm đóng chốt ở mỏm đồi Dài; đây là cứ. Tôi gặp anh Toàn, Đại phó. Từ đây đi khoảng 700 m đến 1 km là chốt chính ở  mỏm đồi cụt .

Tôi hỏi tình hình thì được biết một đồng chí Phó Chủ tịch huyện là anh Nguyễn Hữu Chí đã đi vào Bản Máy để kiểm tra công việc.

Tôi ở lại C1 chờ chỉ thị.

Chỗ nghỉ của anh em lúc ấy rất đơn sơ. Một căn hầm nửa chìm nửa nổi, mái chỉ nhô lên khỏi mặt đất một chút, bên trên lợp tranh và phủ giấy dầu.

Trong phòng chỉ có hai chiếc giường.

Một chiếc của anh Toàn, một chiếc dành cho tôi.

Tối hôm ấy, anh Toàn làm thịt một con gà.

Tôi nhớ lời dặn nên không uống rượu.

Sáng hôm sau, bữa sáng là cơm với thịt hộp. Bữa trưa có món thịt xào mặn.

Những bữa ăn như thế bây giờ nghĩ lại thấy rất đỗi bình thường, nhưng trong hoàn cảnh năm ấy, đó là những bữa ăn của tình đồng đội, tình đồng chí giữa những người sống và làm việc ở nơi núi rừng xa xôi.

Khoảng 14 giờ hôm sau, anh Toàn bảo tôi vào Bản Máy.

Trước khi đi, anh bảo tôi thay quần áo.

Không mặc quần áo cán bộ nữa mà mặc bộ quần áo Tà phủ của đồng bào địa phương.

Anh còn cho tôi mượn một chiếc túi truyền thống để đeo.

Tôi hơi bất ngờ nhưng cũng làm theo.

Đoàn đi gồm một tổ trinh sát đi phía  trước khoảng ba, bốn người, phía sau cũng có vài người. Mọi người đều mặc quần áo đồng bào.

Khoảng cách giữa các nhóm chừng hơn một trăm mét để vừa bảo đảm an toàn, vừa giữ bí mật trong điều kiện vùng biên giới lúc đó.

Chúng tôi đi bộ.

Từ C1 vào Bản Máy phải đi qua những con đường núi, dốc và trơn trượt.

Đi khoảng 7-8 km thì tới khu vực cầu treo Suối Đỏ.

Tại cầu Suối Đỏ ngày xưa (nằm trên tuyến đường độc nhất nối từ trung tâm huyện Hoàng Su Phì qua xã Tụ Nhân, xã Chiến Phố để vào xã Bản Máy).  

 Chọn chỗ  này làm cầu  năm 1984, vì là nơi hẹp nhất phù hợp vật tư vật liệu lúc bấy giờ;  đoạn suối hẹp nhất rộng 40 m. Phòng giao thông xây dựng đã khảo sát đặt cầu và  cùng Nhân dân xã Bản Máy đã xây dưng xong hố neo hai bờ không kéo cáp làm cầu được (do bên kia thường  tung thám báo phá hoại hố neo và bắt dân sang bên kia, nên đến tháng 5/1988 mới tiếp tục thi công hoàn thành cầu treo này).

(Ảnh minh họa : Cầu treo dân sinh )

Vị trí thiên nhiên này : Hố neo cáp bên Chiến phố là thôn Mỏ Phìn, còn hố neo cáp phía Bản Máy thuộc cụm dân cư Hoa Sì Pan.

Cầu  nằm tại khe suối Đỏ, khu vực thượng nguồn suối Đỏ — dòng suối ngoằn ngoèo chảy dọc và phân chia ranh giới tự nhiên trong vùng.

Cây cầu này đóng vai trò là điểm nút giao thông quan trọng  trong thời kì chiến tranh bảo việ biên giới Bản Máy và cũng là lối rẽ ngã ba đặc trưng để  di chuyển tiếp lên xã Bản Phùng (rẽ trái sau khi qua cầu) hoặc đi thẳng để tiến sâu vào xã Bản Máy.

Tại đây chúng tôi gặp khoảng năm, sáu cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bản Máy.

Anh em bộ đội đưa  tôi tiếp tục đi sâu vào đất thuộc khu Hoa Si Pan.

Sau hơn hai  cây số, chúng tôi đến một  cái chuồng ngựa của đồng bào La Chí.

Hai chiến sĩ ở lại đó với tôi.

Tôi được bố trí nghỉ tạm tại đây.

 3.Bữa cơm trong đêm gió lạnh.

Khoảng 19 giờ. Trời đã tối.

Gió từ khe suối thổi lên lạnh buốt.

Một đồng chí trong đơn vị đến mời tôi về đồn ăn cơm.

Hai chiến sĩ vẫn ở lại chuồng ngựa làm nhiệm vụ canh gác.

Tôi đi theo anh em về đồn.

Khu đồn nằm dưới chân núi Hoa Sì Pan, gồm những dãy lán thấp. Nhà làm chìm dưới đất, mái lợp tranh và giấy dầu.

Bếp của đồn lúc ấy có khoảng năm, sáu người đang chờ ăn.

Hôm đó đơn vị làm thịt một con dê.

Trong hoàn cảnh vùng biên giới ngày ấy, một bữa cơm như vậy có thể coi là khá tươm tất.

Mọi người vừa ngồi vào mâm thì có một chiến sĩ gọi:

“Anh Lợi, lên nhà chỉ huy.”

Tôi đi theo.

Căn nhà chỉ huy khi ấy cũng rất đơn sơ. Nhà thấp, tựa lưng vào núi. Xung quanh còn có những căn lán, hầm trú ẩn và các công trình phục vụ nhiệm vụ biên phòng.

Trong nhà có một chiếc bàn dài.

Mọi người ngồi hai bên, mỗi bên khoảng bốn, năm người.

Đối diện cửa ra vào là một người đàn ông mà lúc ấy tôi hoàn toàn không biết là ai.

Ông mặc quần áo của đồng bào.

Dáng người nhỏ nhắn.

Nếu chỉ nhìn qua, tôi không nghĩ đó là một cán bộ Trung ương.

Tôi được xếp ngồi cạnh ông.

Đồng chí chỉ huy đồn ngồi đối diện.

Rồi anh em mang ra một chiếc bát Chiết yêu.

Đó là loại bát có miệng loe, thân thu nhỏ dần xuống đáy, kiểu bát thường thấy trong đời sống của đồng bào vùng cao.

Mọi người bắt đầu ăn.

Người đàn ông ngồi cạnh tôi hỏi chuyện.

Ông hỏi về công việc, về đường sá, về tình hình địa phương.

Tôi trả lời những gì mình biết.

Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đây là một cán bộ đi cùng đoàn công tác.

Tôi không biết tên.

Không biết chức vụ.

Cũng không hề nghĩ rằng cuộc gặp ngắn ngủi ấy sau này lại trở thành một kỷ niệm đặc biệt trong cuộc đời công tác của mình.

Có một chi tiết đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ.

Khi bắt tay ông, tôi thấy bàn tay ông rất ấm.

Giữa cái lạnh của núi rừng Bản Máy, trong căn nhà đơn sơ tựa lưng vào núi, cái bắt tay ấy khiến tôi có một cảm giác rất gần gũi.

Một người mặc quần áo đồng bào, dáng người nhỏ nhắn, nói chuyện giản dị.

Tôi không hề biết mình đang ngồi cạnh ai.

4. “Sau này nếu đất nước hòa bình….”

Trong bữa cơm hôm ấy, câu chuyện chuyển sang việc đường sá và cuộc sống của người dân.

Người đàn ông ấy hỏi tôi:

“Sau này nếu đất nước hòa bình thì chú có đề đạt gì không?”

Tôi suy nghĩ một lát rồi nói thật những điều mình đang nghĩ.

Tôi nói rằng tôi về Hoàng Su Phì công tác trong lúc đất nước vẫn còn chiến tranh, huyện còn rất nghèo và đường sá vô cùng khó khăn.

Cả huyện chỉ có khoảng 60 km tỉnh lộ 177.

Huyện đã mở được tuyến Km 5 - Tân Tiến khoảng 5,5 km và tuyến đường khoảng 19 km qua Tụ Nhân, Chiến Phố lên Đồi Dài.

Ngoài ra còn có hàng trăm ki-lô-mét đường dân sinh phục vụ đồng bào.

Nhưng từ Đồi Dài vào Bản Máy thì chưa có đường ô tô.

Tôi nói:

“Nếu sau này đất nước hòa bình, tôi chỉ mong có điều kiện xin được đầu tư làm con đường từ huyện lỵ vào đến đây. Khoảng hơn 30 km, chừng 34 km. Con đường ấy sẽ phục vụ bà con Tụ Nhân, Chiến Phố, Bản Máy, đồng thời giúp anh em bộ đội biên phòng đỡ vất vả hơn.”

Tôi nói bằng suy nghĩ của một người làm giao thông ở huyện.

Không có ý nghĩ gì lớn lao.

Chỉ nghĩ rằng có đường thì dân bớt khổ.

Có đường thì hàng hóa vào được.

Có đường thì cán bộ, bộ đội đi lại thuận lợi.

Có đường thì vùng biên giới sẽ gần hơn với miền xuôi.

Người đàn ông ấy im lặng một lúc.

Rồi ông nắm tay tôi và nói:

“Nhất trí nhé.”

Chỉ hai tiếng ấy thôi.

Nhưng với tôi, nó ở lại trong ký ức suốt nhiều năm.

Sau đó, ông mời tôi uống một bát rượu.

Tôi nhớ lời anh Nhất dặn, nhưng trong một bữa cơm như thế, từ chối hoàn toàn thì cũng không tiện.

Tôi nâng bát rượu.

Có người nói với tôi:

“Anh mời anh ấy đi.”

Tôi quay sang mời.

Ông cũng uống.

Tôi uống.

Một bát rượu trong một đêm lạnh ở vùng biên giới.

Không ai lúc đó biết rằng nhiều năm sau, tôi sẽ nhớ đến bát rượu ấy như một dấu mốc trong câu chuyện về con đường Bản Máy.

 5. Sáu năm sau tôi mới biết người đó là ai?

Sau chuyến đi ấy, tôi trở lại công việc thường ngày.

Cuộc sống cứ thế trôi đi.

Tôi vẫn làm công tác giao thông, vẫn đi kiểm tra đường sá, vẫn lo sửa chữa và mở những tuyến đường phục vụ dân sinh.

Tôi không nghĩ nhiều về người đàn ông mặc quần áo đồng bào hôm ấy.

Bởi tôi thậm chí còn không biết tên ông.

Mãi đến năm 1994, khi huyện xây dựng kế hoạch giao thông và tỉnh đã đồng ý chủ trương ưu tiên tuyến Hoàng Su Phì – Bản Máy, câu chuyện cũ mới trở lại.

Tuyến đường được xác định có ý nghĩa phục vụ các xã Tụ Nhân, Chiến Phố, Bản Máy, Đồn Biên phòng Bản Máy và một số vị trí quân sự trong khu vực, trong đó có khu vực Mào Gà 1660.

Tất cả các khâu chuẩn bị từ khảo sát đến hồ sơ thi công tỉnh Hà Giang đã phê duyệt. Phần kế hoạch huy động dân công công ích của huyện đã có phương án , lệnh huy động dân công đã sẵn sàng. Nhưng cái khó và quyết định là vật liệu nổ và các vách đá cao thì Nhân dân làm rất khó khăn và có thể xẩy ra tai nạn , vì huy động Nhân dân chỉ làm các phần việc chân tay còn thi công vách đá yêu cầu công nhân kĩ thuật khoan đá nổ mìn? Sau nhiều trăn trở làm thế nào có nguồn kinh phí để mua vật liệu nổ và nhân công kĩ thuật.

Lúc ấy, Bí thư Huyện ủy là anh Vướng Phát Hữu.

Một hôm anh hỏi tôi: “Chú năm 1989 gặp anh Mạnh nói cái gì, nhớ không?”

Tôi ngạc nhiên.

Tôi nói:

“Em có gặp anh Mạnh bao giờ đâu?”

Anh Hữu nhìn tôi rồi nói:

“Người chú gặp ở Bản Máy năm ấy chính là anh Nông Đức Mạnh.”

Tôi sững người.

Hóa ra người đàn ông nhỏ nhắn, mặc quần áo đồng bào, ngồi ăn cơm cạnh tôi sáu năm trước chính là ông Nông Đức Mạnh.

Lúc đó tôi mới nhớ lại từng chi tiết.

Bộ quần áo đồng bào.

Dáng người nhỏ.

Cái bắt tay rất ấm.

Câu hỏi về tương lai.

Câu “Nhất trí nhé”.

Và bát rượu hôm ấy.

Tất cả bỗng nhiên trở lại rất rõ.

Anh Hữu hỏi tôi:

“Chú có dám lên Hà Nội gặp anh Mạnh để xin tiền làm đường không?”

Tôi nói:

“Nếu tỉnh đồng ý thì em đi.”

Tôi đề nghị trước hết phải xin ý kiến Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Thừa. Nếu tỉnh thống nhất thì tôi sẵn sàng đi.

Bởi tôi hiểu, chuyện xin vốn làm một con đường lớn không thể chỉ dựa vào một câu chuyện cá nhân.

Nhưng tôi cũng nghĩ đến lời nói năm nào.“Nhất trí nhé.”

 6.Hà Nội, một cuộc gặp mặt sau sáu năm.

Được tỉnh đồng ý, trước mùa mưa năm 1995, chúng tôi lên đường ra Hà Nội.

Đoàn gồm bốn người:

Anh Vướng Phát Hữu – Bí thư Huyện ủy.

Tôi – Trưởng phòng Giao thông – Xây dựng.

Anh Nguyễn Văn Ngọc.

Và anh Đỗ Duy Hường, lái xe Huyện ủy.

Đường từ Hoàng Su Phì về Hà Nội khi ấy cũng không dễ đi.

Khoảng 13 giờ, chúng tôi đến Hà Nội nhưng chưa kịp ăn uống gì.

Mấy anh em tìm mãi không có chỗ ăn phù hợp, cuối cùng vào khu vực Hồ Tây ăn bánh tôm.

Đến hơn 15 giờ, chúng tôi mới tìm đến nơi làm việc của Quốc hội.

Tại đây, chúng tôi gặp thư ký của anh Mạnh, tên là Lê Thế Chữ.

Anh Chữ nói anh Mạnh đang điều hành họp nên rất bận, việc tiếp khách phải có hẹn trước.

Chúng tôi trình bày rằng đoàn từ Hoàng Su Phì ra, muốn gặp anh Mạnh để báo cáo việc xin vốn làm đường Bản Máy.

Khoảng 17 giờ, thư ký gọi điện vào báo cáo anh Mạnh.

Vừa nghe điện thoại, anh Chữ vừa quay ra phía đoàn chúng tôi, nói: “Có ba đồng chí từ Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, nói là có hẹn từ năm 1989.”

Từ chỗ ngồi, chúng tôi nghe rất rõ tiếng anh Mạnh trả lời:

“Tôi nhớ rồi, cho gặp, chờ tôi nhé.”

Tôi nghe câu ấy mà thấy lòng mình chùng xuống.

Ông vẫn nhớ.

Nhớ Bản Máy , nhớ  Hoàng Su Phì.

Và nhớ cả cuộc gặp năm nào.

Hơn 17 giờ, ông về phòng làm việc của thư ký.

Chúng tôi bắt tay nhau.

Tôi nhận ra ngay người đàn ông nhỏ nhắn của sáu năm trước.

Nhưng lần này, hoàn cảnh hoàn toàn khác.

Ông là một cán bộ lãnh đạo cấp cao, còn chúng tôi chỉ là những cán bộ huyện miền núi ra Hà Nội xin vốn làm đường.

Anh Mạnh nói mình rất bận, rồi bảo tôi trình bày.

Tôi báo cáo về tuyến đường Bản Máy.

Tôi nói về sự cần thiết của con đường.

Tôi nói về  mong mỏi của đồng bào dân tộc  vùng cao ước muốn con đường từ Huyện qua  Tụ Nhân, Chiến Phố đến  Bản Máy, về Đồn Biên phòng Bản Máy và những khó khăn trong việc đi lại.

 Tôi nói rằng năm ấy, ở Bản Máy, tôi từng đề đạt mong muốn có một con đường vào vùng biên giới. Anh đã nói: “Nhất trí nhé.”Bây giờ tuyến đường đã được tỉnh đưa vào kế hoạch, huyện muốn xin Trung ương hỗ trợ vốn để thực hiện.

Ông  Mạnh nghe.

Sau đó ông đồng ý chủ trương và chỉ đạo làm việc với Bộ Giao thông vận tải.

Ông viết ý kiến trên tờ trình của tỉnh, đại ý đề nghị Bộ Giao thông vận tải xem xét cho Hà Giang thực hiện một dự án đường giao thông theo hướng thí điểm, cùng với Mường Tè, Lai Châu.

Lúc ấy tôi hiểu rằng con đường đã có thêm một cơ hội.

Trước khi chúng tôi ra về, ông Mạnh nói đáng lẽ muốn mời anh em một bữa cơm, nhưng hôm đó phải tiếp khách quốc tế nên không thể.

Ông nói lời xin lỗi.

Tôi nhớ mãi câu ấy.

Bởi sáu năm trước, giữa núi rừng Bản Máy, ông đã cùng chúng tôi ngồi bên một mâm cơm giản dị.

Sáu năm sau, giữa Hà Nội, chúng tôi lại gặp nhau.

Một cuộc gặp chỉ cách nhau vài năm, nhưng hoàn cảnh đã khác rất nhiều.

 7.  Từ Văn phòng Quốc hội đến Bộ giao thông vận tải.

Sau cuộc gặp, thư ký hướng dẫn chúng tôi tiếp tục làm việc với Bộ Giao thông vận tải.

Lúc đó đã khá muộn. Chúng tôi tìm đến anh Dũng, thư ký của Bộ trưởng Bùi Danh Lưu.

Anh Dũng vẫn chờ.

Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, anh cho biết Bộ trưởng lúc đó đang ở Tân Sơn Nhất để chuẩn bị đi công tác.

Chúng tôi tiếp tục trình bày nội dung.

Sau khi nghe, Bộ trưởng Bùi Danh Lưu chỉ đạo: “Các anh cứ về đi, tôi chỉ đạo cấp sớm nhất có thể.”

Chúng tôi trở về Hoàng Su Phì với một niềm hy vọng rất lớn.

Đối với một huyện miền núi nghèo như Hoàng Su Phì khi ấy, một khoản vốn lớn để mở đường là điều không dễ dàng.

Nhưng lần này, chúng tôi đã có cơ sở để chờ đợi.

 8. Con đường Bản Máy

Đến tháng 6 năm 1995, Bộ Giao thông vận tải cấp cho dự án khoảng 1 tỷ đồng.

Số vốn ban đầu thấp hơn mức huyện đề nghị khoảng 1,6 tỷ đồng.

Sau đó, nguồn vốn tiếp tục được bổ sung để đáp ứng nhu cầu thực hiện dự án.

Con đường bắt đầu được triển khai.

Những con dốc ngày trước chỉ có người và ngựa đi qua;  dần vang lên tiếng máy, tiếng xe.

Những đoạn đường đất từng khiến chúng tôi phải đi bộ hàng giờ bắt đầu được mở rộng.

Con đường nối từ khu vực huyện lỵ vào Bản Máy không chỉ là một tuyến giao thông.

Đối với người dân vùng cao, đó là sự thay đổi của cuộc sống.

Có đường thì nông sản có thể đưa ra ngoài.

Có đường thì hàng hóa có thể đưa vào.

Cán bộ đi công tác đỡ vất vả.

Người dân đi khám bệnh, đi học, đi chợ thuận lợi hơn.

Với những người lính biên phòng, con đường cũng giúp việc vận chuyển, tiếp tế và đi lại ở vùng biên giới bớt gian nan.

Tôi không dám nói rằng chỉ từ một bát rượu hay một câu nói năm 1989 mà con đường được hình thành.

Để có một con đường, còn có chủ trương của tỉnh, kế hoạch của huyện, hồ sơ, vốn đầu tư, sự chỉ đạo của nhiều cơ quan và công sức của rất nhiều người.

Nhưng đối với riêng tôi, cuộc gặp năm 1989 là một kỷ niệm đặc biệt.

Nó cho tôi thêm niềm tin rằng những mong muốn chính đáng của người dân vùng cao, nếu được nói ra đúng lúc và được những người có trách nhiệm lắng nghe, có thể trở thành hiện thực.

9. Những người mở đường.

 Con đường nối liền từ trung tâm huyện về trung tâm xã vốn là ước mơ ngàn đời của đồng bào các dân tộc. Giờ đây, ước mơ ấy đã thành hiện thực, đưa những khát vọng bay xa ra khỏi bản làng giữa đại ngàn mênh mông.

Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy câu chuyện về con đường Bản Máy không chỉ là chuyện của một người.

Đó là chuyện của rất nhiều người.

Là những cán bộ huyện năm ấy ngày ngày đi kiểm tra đường sá.

Là những người công nhân của Xí nghiệp xây dựng Cầu-Đường giao thông Hoàng Su Phì, mở từng mét đường núi và vách đá.

Là đồng bào các dân tộc góp sức, dẫn đường, giúp đỡ bộ đội và cán bộ.

Là những chiến sĩ biên phòng bám đồn, bám bản, sống trong những căn nhà đơn sơ giữa vùng biên giới cũng tham gia mở đường.

Là những người ở tỉnh, ở Bộ, ở Trung ương đã xem xét và tạo điều kiện để dự án được thực hiện.

Những con đường vùng cao bao giờ cũng được làm bằng rất nhiều mồ hôi.

Có những người mở đường mà không bao giờ được nhắc tên.

Có những người chỉ để lại một kỷ niệm trong trí nhớ của người khác.

Nhưng tất cả đều góp phần làm cho con đường thành hình.

Tôi nhớ nhất những ngày đầu.

Đường còn là những lối mòn.

Xe không đi được.

Có lúc phải bỏ xe giữa đường rồi đi bộ.

Có lúc phải cải trang thành người địa phương để đi vào vùng biên giới.

Có những đêm ngủ trong căn hầm nửa chìm nửa nổi, mái tranh phủ giấy dầu.

Có những bữa cơm chỉ có cơm với thịt hộp.

Và cũng có những bữa cơm có thịt dê, có rượu, có câu chuyện về tương lai.

Những điều ấy tưởng như rất nhỏ.

Nhưng chính từ những điều nhỏ bé ấy mà ký ức về một thời lại được giữ lại.

 10.Bát rượu nghĩa tình.

Nhiều năm đã trôi qua.

Tôi đã đi qua rất nhiều con đường.

Đã gặp rất nhiều người.

Đã tham gia nhiều công việc.

Nhưng mỗi khi nhớ đến Bản Máy, tôi lại nhớ đến đêm năm 1989.

Nhớ căn nhà thấp tựa vào núi.

Nhớ chiếc bàn dài.

Nhớ những người mặc quần áo đồng bào.

Nhớ người đàn ông nhỏ nhắn ngồi cạnh mình.

Nhớ bàn tay rất ấm khi bắt tay.

Nhớ câu hỏi:

“Sau này nếu đất nước hòa bình thì chú có đề đạt gì không?”

Nhớ câu trả lời của mình về một con đường.

Và nhớ nhất: “Nhất trí nhé.”

Ngày ấy tôi không biết người ngồi cạnh mình là ai.

Tôi cũng không biết rằng sáu năm sau mình sẽ gặp lại ông giữa Hà Nội để nói về chính con đường ấy.

Tôi càng không nghĩ rằng cái bắt tay và bát rượu trong một đêm lạnh ở Bản Máy lại trở thành một phần ký ức sâu đậm đến như vậy.

Bây giờ nhìn lại, tôi hiểu rằng một lời hứa chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta còn nhớ đến nó và tìm cách biến nó thành hành động.

Nhưng một con đường cũng không thể được xây dựng chỉ bằng lời hứa.

Nó phải được xây bằng chủ trương, bằng quyết tâm, bằng tiền vốn, bằng mồ hôi, bằng sức lực của biết bao con người.

Bát rượu năm ấy vì thế không phải là câu chuyện về rượu.

Đó là câu chuyện về nghĩa tình.

Một bát rượu giữa những con người xa lạ nhưng cùng nói về một mong ước chung.

Một con đường cho đồng bào.

Một con đường cho vùng biên giới.

Một con đường để những nơi xa xôi của Tổ quốc gần hơn với cuộc sống bên ngoài.

 LỜI KẾT

 Có những con đường được đo bằng cây số.

Nhưng cũng có những con đường được đo bằng năm tháng, ký ức và nghĩa tình.

Con đường vào Bản Máy đối với tôi là một con đường như thế.

Nó bắt đầu từ những lối mòn vùng cao, những chuyến đi bộ, những căn hầm đơn sơ và một bữa cơm trong đêm lạnh. Ở đó có một cái bắt tay ấm áp, một bát rượu nghĩa tình và một câu nói tôi nhớ suốt nhiều năm: “Nhất trí nhé.”

Sáu năm sau, câu nói ấy lại được nhắc đến giữa Hà Nội, và từ một mong ước nhỏ bé của người cán bộ giao thông năm nào, con đường dần trở thành hiện thực.

Nhìn lại, tôi hiểu rằng một con đường không chỉ được làm nên bởi tiền vốn, máy móc hay sức người. Nó còn được bắt đầu từ một ước mong chính đáng, từ sự đồng lòng và từ những con người biết lắng nghe, biết giữ lời và cùng nhau biến điều mong muốn thành hiện thực.

    Con đường Bản Máy không chỉ nối những bản làng với huyện lỵ. Nó còn nối một lời mong ước năm xưa với hiện thực hôm nay .Và với tôi, đó cũng là một phần ký ức đẹp về một thời đã đi qua — nơi một bát rượu trở thành nghĩa tình, một lời nói trở thành động lực, và một ước mong trở thành con đường.

        Đó là điều mà sau bao nhiêu năm, tôi vẫn nhớ./,

(Ngô Lê Lợi – Hồi kí- Yên Hòa -Hà Nội ngày 27/9/2026)