(Hồi ký những năm
tháng dưới mái trường Trung học GTVT 1976 - 1980)
Lich sử về nhà trường
Thời
kỳ Trung học: những năm 1970 là Trường Trung học GTVT, sau đó
đến năm 1983-1990 đổi tên Trường Trung học GTVT Khu vực I
Thời kỳ Cao đẳng: Đến năm 1996,
trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng GTVT theo
Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong giai đoạn này, trường có cơ sở đào
tạo lớn tại Vĩnh Yên (thời điểm trước năm 1997 thuộc tỉnh Vĩnh Phú, sau đó
thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) nên thường được người dân và học sinh sinh viên gọi quen
thuộc là Trường Cao đẳng GTVT Vĩnh Yên hoặc Cao
đẳng GTVT Vĩnh Phúc.
Thời
kỳ Đại học (Hiện nay): Vào ngày 27/04/2011, Thủ tướng
Chính phủ đã ký Quyết định số 630/QĐ-TTg nâng cấp toàn bộ trường Cao đẳng GTVT
thành Trường Đại học Công nghệ Giao
thông Vận tải.
Dẫn chuyện: Từ người chiến sĩ Quân đội đến người học trò Giao thông
Sau những năm tháng cống hiến tuổi trẻ cho khói lửa chiến trường, đi qua chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử để giải phóng hoàn toàn miền Nam; tôi hoàn thành nghĩa vụ của một người thanh niên với Tổ quốc. Hành trang rời quân ngũ của tôi chẳng có gì nhiều, ngoài chiếc ba lô sờn bạc và bộ quân phục màu xanh chiến sĩ. Tôi được quân đội cho chuyển ngành và cử đi học tại trường Trung học Giao thông Vận tải Đường bộ tại vùng đất trung du Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phú.
Phần thứ nhất: Ngày tựu trường và bước ngoặt cuộc đời
Ngày 2 tháng 4 năm 1976, tôi được quân đội cho ra Bắc an dưỡng tại Trạm đón Thường Tín (Trạm tập kết quân nhân Thường Tín cạnh Ga Thường Tín).
Đây chính là Binh
trạm T3 – một đầu mối giao thương và tiếp quản quân nhân vô cùng quan trọng tại
miền Bắc thời bấy giờ, nơi đón nhận, sắp xếp và điều động cán bộ, chiến sĩ, thương
bệnh binh di chuyển giữa hai miền Nam - Bắc sau ngày non sông thống nhất.
Sau đó, từ giữa
tháng 4 năm 1976 đến ngày 30 tháng 11 năm 1976, tôi được đưa về học tập nâng
cao trình độ văn hóa tại thôn Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Hà Nam Ninh (thuộc
Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh). Ở đây có vài tiểu đoàn, chủ yếu là cán bộ
chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh
giải phóng miền Nam, nay được Đảng, Chính phủ và Quân đội cho trở lại miền Bắc
vừa an dưỡng vừa ôn văn hóa để thi vào các trường đại học, cao đẳng và trung
cấp nhằm chuẩn bị lực lượng xây dựng đất nước. Cuộc sống ngày ấy đầy sôi nổi,
anh em sáng miệt mài ôn chữ, chiều lại hồ hởi tham gia lao động sản xuất, gánh
đất xây dựng tại nhà máy gạch Sông Tranh
bên bờ sông Hoàng Long lộng gió.
Khi đó tôi có hai
nguyện vọng: Một là Đại học Giao thông Vận tải, hai là Trung học Giao thông Vận
tải. Thi không đỗ nguyện vọng một, tôi được cử về trường Trung học GTVT Vĩnh
Yên theo nguyện vọng hai.
Ngày 1 tháng 12 năm
1976, tôi chính thức nhập trường, bắt đầu một trang đời mới.
Phần thứ hai: Mái trường thân yêu bên bờ Đầm Vạc
Ngày tôi về tựu trường, cơ sở vật chất còn vô cùng gian khó. Khu giảng đường chính thì kiên cố, nhưng khu nội trú của lớp chỉ lợp mái lá cọ tạm bợ, xen kẽ với những lớp học tranh tre nứa lá. Tất cả hạ tầng thời kỳ này đều do chính thầy cô và học sinh cùng nhau tăng gia, sản xuất vật liệu và đóng góp từng ngày công lao động để xây dựng nên.
Đi từ ga xe lửa Vĩnh
Yên thời kỳ đó về trường, con đường gần nhất và độc đạo là phải băng qua một
cái đầm rất lớn – đó là Đầm Vạc. Ngày ấy, khu vực Đầm Vạc còn hoang sơ lắm,
diện tích mặt nước rộng lớn, lau sậy mọc um tùm chứ chưa hề có bóng dáng những
cây cầu bê tông hay khu đô thị hiện đại như bây giờ. Mọi sinh hoạt, giao thương
từ trường ra trung thị xã Vĩnh Yên để mua sắm nhu yếu phẩm, đi chợ, bắt tàu xe
xuôi ngược, học sinh và thầy cô bắt buộc phải đi bộ ra bến đò để qua đầm bằng
một con đò ngang độc đạo.
Kỷ niệm vào mùa mưa,
nước Đầm Vạc dâng cao, sóng lớn khiến việc đi đò vô cùng tròng trành, nguy
hiểm. Ngược lại, vào những đêm trăng sáng, những chuyến đò chở đầy học sinh
giao thông lại rất yên bình, lãng mạn.
Nếu ai từ thị xã về
trường muộn mà lỡ chuyến đò cuối thì coi như "tiêu đời", phải đứng
bên này bờ hú gọi khản cả cổ khẩn khoản xin đò, hoặc tìm cách ngủ nhờ nhà dân,
may mắn lắm mới chờ được một chiếc thuyền chài đi đánh cá đêm để xin đi nhờ về
trường.
Sinh hoạt tập thể
thời kỳ bao cấp (1976–1980) đúng là một khúc ca dở khóc dở cười. Tiêu chuẩn ăn uống
của học sinh đều được phân phối theo tem phiếu qua nhà bếp tập thể. Bữa sáng là
một chiếc bánh mì tiêu chuẩn nặng 250gr làm từ bột mì mậu dịch, ruột đặc quánh
và hơi chua; nhận về rồi ban cán sự lớp phải chia làm ba phần gần bằng nhau cho ba học
sinh.
Ai có điều kiện hơn thì ra cổng hậu nhà trường
mua thêm đĩa sắn luộc giá 2 hào; nếu bỏ ra 3 hào thì có thêm tí mỡ lợn trộn vào
cải thiện cái dạ dày buổi sáng.
Còn đa số chúng tôi chỉ nuốt vội phần bánh mì
của mình cho kịp tiếng trống, tiếng kẻng báo giờ lên lớp.
Bữa trưa và bữa tối
mới thực sự là nỗi ám ảnh mang tên "hạt bo bo". Giai đoạn cuối những
năm 70 là đỉnh điểm của sự thiếu thốn. Việc ăn cơm gạo trắng hoàn toàn là một
"xa xỉ phẩm" chỉ có vào những ngày đầu tháng khi trường mới lĩnh gạo
mậu dịch về, hoặc vào các dịp lễ, Tết. Phần lớn các bữa ăn còn lại phải độn ngũ
cốc. Hạt bo bo mậu dịch thời đó rất cứng, nếu nhà bếp không ngâm kỹ và ninh lâu
thì khi nấu chín ăn vào sẽ vừa dai vừa cứng, nhai mỏi rã cả quai hàm; anh em cứ
trêu nhau là “nuốt vào thế nào thì đi ra nguyên thế ấy”. Ngoài bo bo, nhà bếp
còn độn thêm sắn khô hoặc khoai lang, cơm độn nhiều đến mức học sinh phải đi
"mót" từng hạt cơm gạo trắng hiếm hoi trong tiêu chuẩn cơm của mình.
Canh tập thể thường
chỉ có một bát nước canh luộc rau muống già đã đổi màu, được học sinh gọi vui
là "canh đại dương" vì nước mênh mông mà rau thì thưa thớt, hầu như
không có mỡ. Thỉnh thoảng mới có một vài miếng thịt mỡ thái mỏng dính hoặc đậu
phụ kho mặn chát để ăn kèm cho trôi cơm.
Để cải thiện bữa ăn,
thầy và trò phải tranh thủ giờ rảnh để tăng gia sản xuất. Học sinh cuốc đất
trồng rau quanh khu nội trú, chủ yếu là rau muống dễ trồng, ít chăm bón mà rất
tốt, rau thừa ăn không hết. Còn thầy cô thì tăng gia trồng các loại rau cao cấp
hơn và nuôi thêm lợn, gà, chó... quanh khu nội trú. Cái đói, cái khổ của thời
bao cấp ấy gian nan là vậy nhưng lại là chất xúc tác khiến cho tình bạn, tình
đồng chí của các học sinh giao thông năm xưa trở nên gắn bó, thiêng liêng vô
cùng.
Thời kỳ đó, học sinh thực hiện nghĩa vụ
xây dựng trường với chỉ tiêu 300 viên gạch mộc/năm. Vào kỳ nghỉ hè, chúng tôi tập
trung sớm vài tuần tại khu đất của trường để tự tay đúc gạch thủ công. Tuy có sự
hỗ trợ về nguyên vật liệu và hướng dẫn kỹ thuật, công việc vẫn đòi hỏi tính
kiên nhẫn và đôi tay khéo léo. Dưới
cái nóng như đổ lửa, tinh thần
lao động hăng say của mọi người vẫn không hề giảm nhiệt.
Kết quả, cả lớp đã xuất sắc hoàn thành kế hoạch khi toàn bộ sản phẩm nghiệm thu
đều đạt chất lượng cao.
Tôi nhớ lại khi ở
đơn vị cũ, tôi là Hạ sĩ hưởng sinh hoạt phí là 9 đồng/tháng. Nhưng khi chuyển
ngành về trường, chế độ quân nhân giúp tôi được hưởng 21 đồng/tháng. Tiền ăn
trừ thẳng vào bếp mất 15 đồng cho tháng 30 ngày và 15,5 đồng cho tháng 31 ngày,
vị chi tiền tiêu vặt chỉ còn chừng 4,5 đến 5 đồng một tháng. Mỗi tháng cố gắng
tiết kiệm tiêu trong vòng 10 đồng, nên mẹ tôi chắt chiu cho thêm 5 đồng sinh
hoạt phí từ ngày vào đến khi ra trường. Cứ hai tháng một lần mẹ lại gửi lên 10
đồng, tôi lại đi bộ ra bưu điện Vĩnh Yên lĩnh về tiêu – số tiền đó là cả một
bầu trời tình thương của mẹ.
Vì sinh hoạt phí ít,
tôi dồn hết tâm trí vào việc học. Năm đầu tiên học văn hóa, tôi luôn đứng trong
tốp 10 của lớp và được bầu làm tổ trưởng tổ học tập. Đêm đêm dưới ánh đèn dầu
tù mù, tôi lại ngồi hướng dẫn bài vở cho các bác lớn tuổi trong lớp. Đền đáp
lại tấm lòng của cậu hạ sĩ trẻ, các bác lúc thì cho cái bánh mì giá 4 hào, lúc
thì chiếc bánh xốp giá 2 hào. Gần như tất cả các buổi hướng dẫn tôi đều có quà,
gom góp lại cũng đủ tiền ăn sáng hay thỉnh thoảng mua bát chè tươi 5 xu uống.
Cứ các buổi sáng,
tôi lại xung phong cùng một người bạn xách
thùng nhôm Romine dung tích 20 lít xuống nhà ăn lấy nước sinh hoạt cho
cả phòng. Nhờ sự chăm chỉ ấy, anh lớp trưởng luôn ưu ái chia cho tôi phần khúc
giữa của chiếc bánh mì – phần bao giờ cũng nhỉnh hơn hai phần đầu đuôi.
Những buổi chiều
muộn, thỉnh thoảng lại được các anh hay bạn bè chèo kéo đi uống bát nước chè
tươi giá 5 xu, nhấm nháp thêm 5 xu lạc rang bùi bùi nơi quán cóc, bấy nhiêu
thôi mà thấy cuộc đời hạnh phúc, đủ đầy hơn những ngày thường.
Trong suốt hơn ba
năm miệt mài đèn sách dưới mái trường trung cấp, có một mùa hè và một mùa tết
tôi đã tự nguyện xin ở lại trường, không về quê, để nhận nhiệm vụ 'trông hè,
trông tết' – bảo quản quân tư trang, hòm xiểng cho anh em trong lớp. Ngày ấy
gian khổ nhưng tình nghĩa lắm. Đợt nghỉ tết hai tuần, tôi được tập thể lớp
trích quỹ cho 15 đồng; còn ba tháng hè ròng rã thì được nhận 30 đồng. Thú thực,
đồng sinh hoạt phí ít ỏi ấy lúc bấy giờ
là cả một nguồn phụ thu quý giá, bản thân tôi rất muốn xung phong nhận thêm những
lần sau. Những năm đó , ai cũng có một hoàn cảnh, lớp tôi ngày ấy nhiều anh em
còn chật vật, khó khăn hơn mình nhiều. Hiểu được điều đó, ban cán sự lớp đã
luân phiên chọn cử những người khác, để ai cũng có cơ hội kiếm thêm chút thu nhập
trang trải cuộc sống. Sự sẻ chia thầm lặng ấy chính là cái tình, cái nghĩa
thiêng liêng của một thời gian khó mà tôi chẳng thể nào quên.
Nhớ nhất vùng đất
trung du bấy giờ là khi mùa đông chạm ngõ. Mỗi khi cơn gió heo may đầu mùa tràn
về mang theo cái rét ngọt sắc của miền Bắc, lòng tôi lại bồi hồi, chợt nhớ về
những vùng đất, những cánh rừng từng hành quân qua từ Lào, Campuchia đến miền
Đông, miền Tây Nam Bộ – nơi chỉ có cái nắng thiêu đốt của mùa khô cháy da. Giờ
đây, đứng giữa miền trung du gian khó, cái lạnh phương Bắc lại mang một phong
vị rất riêng.
Sáng sớm, sương mù
lất phất giăng màn trên các hàng cây quanh lớp học. Khi luồng gió mùa Đông Bắc
tràn về kéo theo những đợt mưa phùn mờ mịt, những đồi cọ, đồi chè xanh ngắt
ngày thường bỗng ẩn hiện thấp thoáng trong làn sương mây dày đặc sà xuống ôm
lấy đỉnh đồi tròn như bát úp. Đi trên con đường đất đỏ trung du vào sáng sớm,
cái lạnh cứ quấn quýt dưới chân, mơn man trên da thịt khiến người ta phải so
vai rụt cổ vì chưa kịp quen với hơi giá. Đặc sản của trung du chính là những
rừng cọ bạt ngàn. Khi gió bấc tràn về, những tàu cọ già xòe rộng bắt đầu khua
vào nhau tạo nên âm thanh xào xạc...
Phần thứ ba: Học trên giảng đường và những mùa thực tập
Vượt qua năm đầu tiên học văn hóa cơ bản, sang năm thứ hai, chúng tôi bắt đầu bước vào học các môn chuyên môn sâu của ngành vận tải đường bộ.
Đến năm 1978, chúng tôi đi thực tập tại Nhà
máy ô tô Hà Nội - Hà Tây. Tại đây, chúng tôi được học và thực hành tất cả các
khâu thực tế: Từ phòng điều độ, rồi trực
tiếp đứng phụ xe buýt đông đúc thời bao cấp, đến việc ngồi tại Phòng Kế hoạch,
Phòng Vật tư xăng dầu để tiếp cận lập kế hoạch , quy trình quản lý cấp phát vật tư nhiên liệu,
lốp xe… Không chỉ vậy, chúng tôi còn xuống xưởng của nhà máy sửa chữa ô tô để
trực tiếp tham gia vào các quá trình học và thực tế việc trung tu, đại tu động
cơ và xe ô tô.
Đến năm 1979, chuẩn
bị ra trường, tôi cùng đoàn thực tập được phân về thực tập tại Công ty Ô tô
Thủy bộ Vĩnh Phú. Đối mặt với bối cảnh thực tiễn tại đây, tôi và anh em trong
đoàn đã đưa ra một sáng kiến mang tính đề tài thực tiễn: Lập kế hoạch bảo
dưỡng định ngạch trung đại tu cho hơn
100 chiếc xe ô tô của công ty, quy định chi tiết từ khâu duy tu thường
xuyên, trung tu cho đến đại tu định kỳ.
Đề tài thành công
xuất sắc và áp dụng hiệu quả vào sản xuất, ban giám đốc công ty đã thưởng cho
đoàn thực tập số tiền lên tới 30 đồng. Khoản thưởng rất lớn thời bấy giờ
khiến anh em mừng rơi nước mắt.
Thấm thoắt hơn 3 năm
học tập cũng đến ngày hái quả chúng tôi bước vào kỳ thi tốt nghiệp cuối khóa.
Cuối tháng 5 năm 1980, quyết định phân công công tác chính thức , tôi được điều
động về UBND tỉnh Hà Tuyên và tỉnh điều
về Sở Giao thông Vận tải Hà Tuyên ; sở
GTVT Hà Tuyên điều động tôi lên UBND
huyện Hoàng Su Phì, ngày 1/6/1980 UBND huyện điều tôi nhận công tác ở phòng
GTVT Hoàng su Phì, là huyện vùng cao biên giới khi đó là tuyến I của tỉnh Hà
Tuyên đang có chiến sự rất ác liệt.
Phần kết: Tấm chăn bông cũ - Nhớ mãi một thời gian khó
Những ngày cuối cùng ở khu nội trú bên bờ Đầm Vạc trước khi xếp ba lô đi nhận nhiệm vụ mới là vùng đang có chiến sự ác liệt, lòng tôi trĩu nặng một nỗi niềm lưu luyến. Tôi nhìn lại góc giường ký túc xá, góc tường sát vách là chiếc giường tầng, tôi nằm tầng trên, còn Nguyễn Đức Bẩy nằm tầng dưới, chợt nhìn thấy tấm chăn bông cũ mà Bẩy để bên cạnh mình.
Rời quân ngũ, gia
tài của tôi chẳng có gì ngoài mấy bộ quần áo chiến sĩ bạc màu và chiếc ba lô
sờn góc, một cái chăn đơn mỏng manh. Giường nội trú tầng hai ngày ấy chỉ là tấm
phản gỗ ghép sơ sài. Những mùa đông gió lùa qua vách đất trát rơm cái lạnh tê tái.
Tôi nhớ như in những đêm đầu đông, cái lạnh từ khe vách, mặt đất bốc lên, xuyên
qua manh chiếu mỏng khiến tôi co quắp, thao thức không tài nào chợp mắt. Lúc
bấy giờ, một tấm chăn ấm là cả một ước mơ xa xỉ.
Thế rồi, người bạn
tầng dưới – cũng là một học sinh nghèo quê Thái Bình – đã lặng lẽ sẻ chia cái
rét cùng tôi. Bạn ấy có một tấm chăn bông nhưng đã cũ. Gọi là chăn bông nhưng
vỏ chăn đã sờn rách vài chỗ, lộ cả lớp bông gạo bên trong đã ngả màu ố vàng và bết
lại vì dùng qua nhiều năm tháng. Nhưng trong mắt chúng tôi lúc đó, tấm chăn ấy
quý giá chẳng kém gì một gia tài.
Cứ đêm đến, hai
thằng lại xuống tầng dưới, bảo nhau dồn chiếu lại, nằm sát vào nhau trên chiếc
giường chật hẹp rồi cùng đắp chung tấm chăn bông cũ kỹ ấy. Chiếc chăn không đủ
rộng để phủ kín cả hai đứa, đêm nằm gió lùa, đứa này co thì đứa kia lại hở
chân. Thế nhưng, bằng một cách kỳ diệu nào đó, cái lớp bông gạo cũ kỹ, thô ráp
ấy lại sưởi ấm được hai thân hình gầy gò đang run lên vì lạnh. Trong cái không
gian chật chội và sực mùi sương giá ấy, chúng tôi vừa đắp chăn, vừa rầm rì kể
cho nhau nghe về những ngày tháng ở đơn vị cũ, về quê nhà, và về những ước mơ
sau khi ra trường.
Ba năm sáu tháng học
Trung cấp rồi cũng trôi qua. Chúng tôi tốt nghiệp, mỗi người đi một ngả theo sự
phân công của tổ chức để tiếp tục cống hiến cho đất nước. Suốt mấy năm học, tấm
chăn ấy không chỉ sưởi ấm cho riêng tôi, mà vào những đêm đông rét mướt đỉnh
điểm, tôi và những người bạn thân thiết trong tổ học tập, cùng lớp lại đắp
chung, san sẻ cho nhau từng chút hơi ấm. Những người bạn thân ngày ấy, cùng
chung nồi rau muống luộc do tăng gia cải thiện thêm, bạn cho đĩa củ sắn luộc ,
cùng nhường nhau khúc giữa cái bánh mì mậu dịch, nay mỗi người một ngả theo sự
điều động của Tổ quốc.
Bạn về công tác ở
vùng than Đông Bắc; tôi lên miền núi, nhưng tình bạn gắn liền với tấm chăn bông
sờn rách và những tháng năm gian khổ bên bờ Đầm Vạc ấy sẽ mãi là phần ký ức
thiêng liêng nhất trong cuộc đời tôi...
Thời gian đã lùi xa
mấy mươi năm, cuộc sống bây giờ đã đủ đầy và hiện đại hơn trước rất nhiều. Mỗi
khi đông về, phòng ốc đều có chăn ga đệm ấm, có đèn sưởi điều hòa che chở. Thế
nhưng, chưa một lần nào trong đời tôi quên được cái mùi sương giá trộn lẫn mùi
bông gạo cũ của những năm 70 dưới mái trường GTVT bên bờ Đầm Vạc ấy.
Tấm chăn bông của Bẩy năm ấy không chỉ sưởi ấm thân thể tôi qua những mùa đông nghèo đói của thời sinh viên, mà nó còn sưởi ấm cả tâm hồn tôi suốt cuộc đời về sau. Nó là biểu tượng của một thời gian khó nhưng thanh cao, dạy cho tôi biết trân trọng tình người, tình bạn – những giá trị thiêng liêng nhất mà dù có đi qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn nguyện nâng niu và giữ vẹn nguyên trong ký ức của mình./.
(Hà Nội -Kỉ niệm ngày giải phóng thủ đô năm 2026)

