Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta do Đảng cộng sản Việt Nam và Bác Hồ kính yêu lãnh đạo đã thắng lợi hoàn toàn kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Dấu mốc thắng lợi là ngày 30/4/1975.
Miền
Nam hoàn toàn giải phóng; và Miền Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội xây dựng Miền Nam- một phần của nước Việt Nam ta “ to
đẹp hơn và đàng hoàng hơn –như lời Bác Hồ đã dậy”.
Chúng
tôi những người lính “Cụ Hồ” đã đóng góp một phần công sức nhỏ bé trong cuộc
trường kì kháng chiến của dân tộc và đã về đến đích.
Hỏi
rằng có niềm vui nào hơn nữa nhỉ? Những tuổi 20 ra đi và đã về đích, những
người còn sống xin thắp nén Tâm hương dâng lên linh hồn các anh, các
chị chiến binh đã hy sinh cuộc đời mình vì hạnh phúc nhân dân và vì đất
nước trường tồn.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền nam theo tài liệu lịch sử: chiều ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị gửi điện mật số 37/TK đồng ý với đề nghị của Quân ủy Trung ương lấy tên chiến dịch là "Chiến dịch Hồ Chí Minh", thay thế cho tên gọi ban đầu là Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Việc đặt tên chiến dịch theo tên Bác ngay trước giờ tổng lực tấn công không chỉ khẳng định quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, mà còn tạo ra sức mạnh tinh thần vô giá, cổ vũ quân và dân ta bước vào trận chiến cuối cùng, mở đường cho thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30/4 lịch sử.
Chúng tôi hành quân trên đất Miên khoảng gàn một tháng- Nơi đến là Tiểu đoàn pháo binh độc lập 120 vác-vai) có tên gọi: D23-11; trực thuộc sư đoàn 4 Hậu Giang, Quân khu 9; khi hành quân từ Tây Ninh qua đất Miên có cả cán bộ khung của Tiểu đoàn bộ và 3 đại đội : C1-C2-C3 với khoảng 50 đến 60 người đóng chân ở các tỉnh thuộc Tây Nam Bộ). Khi tập kết ở biên giới Miên thuộc Kam pốt ;trong thời gian huấn luyện ; đầu tháng 4/1975 tiểu đoàn nhận lệnh hành quân tiến về Miền Tây Nam bộ và đơn vị vừa hành quân vừa huấn luyện (nhờ) trên đất Campuchia. Trên đường hành quân thay nhau vác nòng và chân đế pháp 120 trên vai (tháo dời) nòng pháo, chân đế, đạn pháo ... nặng lắm! Nhưng vẫn về đến cứ đích an toàn.
Tôi và Nguyễn Thế Vũ khi đó biên chế ở trung đội 3 (B3) thuộc
đại đội 2 (C2); B3 là trung đội có hai tiểu đội: một thông tin và một
tiểu đội trinh sát (đó là “tai” và “mắt” của Pháo binh!) Vũ ở tiểu đội
thông tin, còn tôi ở tiểu đội trinh sát. Tiểu đội trưởng của tôi là anh Vũ Đình
Đảng quê ở thôn Tướng Loát, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
(Từ khi về nghỉ anh đã chuyển ra xóm trại thôn Tướng Loát). Còn Vũ
khi đi trên đường hành quân Vũ tâm sự quê Vũ ở Ba hàng cây xã Xích Thổ
(Xích Thổ ở đâu thì Vũ không nói hoặc có nói thì còn chiến tranh liên
miên biết để làm gì ? ). Và khi chia tay quê Vũ chỉ có vậy.
Sau khi hành quân trên đất
Miên khoảng một tháng ,quãng đường hành quân trên dưới 500 đến 600 km;
đêm đi ngày nghỉ; đến đầu tháng 2 năm 1975 đơn vị hành
quân đến “chốt” ở căn cứ “tạm” trên đất Miên thuộc tỉnh Kămpốt (từ đây
cách Việt Nam bao xa thì chúng tôi không biết); do trên thông báo là
chúng ta đang ở trên đất Miên nên mọi hoạt động phải luôn trong tình trạng “sẵn
sàng chiến đấu cao” và đơn vị B3 của chúng tôi là ngày đêm huấn luyện tại
chỗ nếu có đi ra ngoài cũng loanh quanh mấy “phum” của Miên: đi tìm hiểu thực địa
địa bàn ; nếu đi xa một chút phải đi từ hai đến 3 người ; phải mang
theo AK và 2 cơ số đạn và 3 đến 4 quả lựu đạn “mỏ vịt”. Khi đó theo thông báo của
trên thì “ Khmer đỏ” đã “có vấn đề” nên bộ đội đề cao cảnh giác.Đơn vị
luôn sẵn sàng chiến đấu cao và sẵn sàng chiến đấu.
Và: chúng tôi nhận lệnh là tiến về miền Tây Nam bộ thuộc mũi tiến vào thành phố
Cần thơ, Là đơn vị pháo binh chủ yếu là đánh phối thuộc hợp đồng chiến đấu với
các đơn vị.
Khi huấn luyện ở Kampot ở Căm –Pu –Chia đơn vị được chỉ thị là mũi chính tiến công vào miền Tây Nam Bộ đích đến là Cần Thơ. Và thời cơ giải phóng miền Tây Nam bộ đã đến. Mũi của đơn vị là giải phóng Cần Thơ. Cần Thơ - trung tâm đầu não vùng IV chiến thuật của Ngụy ; vào 14 giờ 30 phút ngày 30-4, đồng đội đang đánh chiếm Đài phát thanh, tuyên bố giải phóng Cần Thơ - căn cứ quan trọng cuối cùng của Ngụy ở vùng 4 chiến thuật. Cuối buổi chiều cùng ngày, quân và dân Cần Thơ đã chiếm Chi cảnh sát, làm chủ khu vực Hưng Phú, Hưng Thạnh. Tiểu đoàn Tây Đô II tiến công địch trên bờ Nam sông Cái Răng, làm chủ quận lỵ Châu Thành. Lực lượng vũ trang QK9 lần lượt làm chủ hoàn toàn sân bay Trà Nóc, chiếm kho đạn Bình Thủy, sân bay Lộ tẻ, tiêu diệt chi khu Phong Điền. Đến 18 giờ 30 phút ngày 30/4, Cần Thơ - trung tâm đầu não của địch ở ĐBSCL được hoàn toàn giải phóng; toàn bộ hệ thống Ngụy quân, Ngụy quyền từ tỉnh đến cơ sở bị đập tan. Được tin miền Sài Gòn hoàn toàn giải phóng vào trưa 30/4/1975, từ radio của một đồng đội khi đang ăn cơm và tất cả mọi người mừng vui...nhẩy lên. Không có niềm vui nào hơn thế nữa. Buổi chiều ngày 30/4/1975 toàn đơn vị tập trung nghe cấp trên phổ biến “lệnh” hành quân “gấp” về tiếp quản thành phố Cần Thơ. Đêm 30/4 rạng 1/5 anh em không tài nào ngủ được và mọi người bàn tán chuyện mai sau. Đúng 5 giờ sáng 1/5 đơn vị xuất phát đi bộ trên đất Miên hướng về Tây nam bộ , sau đó đi thuyền cô-le đến khoảng 12 giờ chúng tôi có mặt ở thành phố Cần Thơ và khi đó thành phố (không thể tưởng tượng nổi rất khó diễn tả) như vừa trải qua một cơn bão lại vừa như một bãi chiến trường.... xe dân dụng, xe quân dụng, súng nhiều loại, quần áo của ngụy vứt đầy đường. Bóng người dân đi lại rất thưa thớt.
Đơn vị chúng tôi được lệnh tiếp
quân quản “căn cứ Hải quân Bình Thủy” là căn cứ hải quân lớn nhất của
miền Tây Nam Bộ ; rất nhiều tầu chiến, kho tàng, vũ khí, quân dụng của Mĩ-Ngụy.
Theo tài liệu của địch thì căn cứ Bình
Thủy: “Khoảng tháng 3 và tháng 4 năm 1975, quân ta đưa nhiều đơn vị về chung
quanh Cần-Thơ, cố tạo áp lực ngay “trung tâm não bộ” của Vùng IV Chiến-Thuật..
Như
vậy căn cứ hải quân Bình Thủy có một vị trí chiến lược rất lớn ở miền Tây Nam
bộ do đơn vị C2 - tiểu đoàn pháo D23-11 (trực thuộc Quân khu 9) quân quản.
Song
kẻ thù không để cho chúng ta yên mà lại gây hấn. Cuộc chiến tranh ở biên
giới Tây Nam do Khmer đỏ đứng đầu là Pôn Pốt - Iêng Xari chính thức phát
động (có sự hậu thuẫn của Bá quyền Phương Bắc) đã nổ ra. Những khiêu
khích ban đầu của Khmer đỏ : Ngày 5/5/1975 , Khmer
đỏ đã đưa quân lên chiếm đảo Thổ Chu, sau khi chiếm đảo chúng đã bắt đi gần 600
người dân (và giết một số dân thường) đồng thời chiếm đảo Poulowai, dùng
tàu thăm dò bắc đảo Phú Quốc, Nam du.Ngày 7/5/1975, lực lượng ta tại đảo Phú
Quốc đã buộc địch phải rút khỏi phía bắc đảo. Ngày 25/5/75 Quân khu 9 dùng 2
tiểu đoàn của trung đoàn 195 và 1 phần các đơn vị được Bộ tăng cường: Lữ đoàn
lính thủy đánh bộ 101, không quân và hải quân tiến công giải phóng đảo Thổ Chu.
Sau vài ngày bao vây, thì đến ngày 30/5 ta điều các tầu chiến đã đổ bộ lên Thổ
Chu tấn công tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch, diệt 200 tên, bắt sống 315 tên. Quân
ta đã chiếm lại và làm chủ đảo. Sau đó quân khu 9 có ý định tiếp tục thu hồi
quần đảo Cô Tang và Bộ quốc phòng đã triển khai lực lượng bảo vệ toàn bộ
biên giới Việt Nam – Căm pu chia”.
Chuẩn
bị cho tình hình mới đơn vị bàn giao căn cứ Hải quân Bình Thủy cho đơn vị khác
; khoảng trung tuần tháng 6/1975 đơn vị được lệnh hành quân về huấn luyện ở Sóc
Trăng .
Sóc
Trăng được quân và dân ta tấn công đồng loạt các mũi vào địch ở thị xã
Sóc Trăng lúc 3 giờ sáng ngày 30/4/1975 và giải phóng hoàn toàn 14
giờ ngày 30/4/1975; Sóc Trăng có một vị trí rất quan trọng ở miền Tây nam bộ vì
ở đây trước giải phóng: có sân bay Sóc Trăng, Trại thẩm vấn Mỹ, Nhà thương
Trương Bá Hân, Tiểu khu Ba Xuyên, Trại Lý Thường Kiệt (nơi chứa vũ khí của
địch, có đại đội hành chánh tiếp vận đóng quân) và cũng là cửa ngõ xuống phía
cực Nam của Tổ quốc.
Từ
thành phố Cần Thơ đơn vị hành quân đến nơi đóng quân mới để huấn luyện là
phi trường Sóc Trăng.
Tình
hình biên giới từ giữa tháng 6 năm 1975 rất căng thẳng, Pôn Pốt cho quân lấn
sâu vào nhiều nơi thuộc lãnh thổ Việt Nam trên tuyến biên giới dài gần 100
kilômét, từ Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang) đến Tịnh Biên (tỉnh An Giang). Lính Pôn
Pốt gài chông, mìn, lựu đạn, bắt trâu bò, cướp dụng cụ sản xuất và tàn sát nhân
dân ta; có nơi chúng vào sâu đất ta vài km.
Trước
tình hình đó đơn vị nhận lệnh của cấp trên hành quân theo đội hình Tiểu đoàn
chiến đấu lên đồn trú ở căn cứ “Thiết giáp Chi Lăng” (Căn cứ Chi Lăng tại vùng
Bảy núi ), thuộc huyện biên giới Tịnh Biên tỉnh An Giang. Lúc này đơn vị thực
sự hùng mạnh đã được trang bị chính qui hiện đại là tiểu đoàn pháo binh với
nhiều “đại pháo” 105li và thêm cả pháo 155 li - xe ô tô GMC kéo (pháo 120 vác
–vai cho vào kho).
Đơn
vị đón xuân 1976 trên đất biên giới An Giang.
Vui
xuân đơn vị đón 2 đoàn cán bộ và chị em phụ nữ của tỉnh Sóc Trăng và tỉnh
An Giang đến chúc tết bộ đội. Rất vui; tiểu đoàn tổ chúc đốt lửa trại để giao
lưu.
Do
tình hình có chiến sự nên tất cả các đơn vị thuộc tiểu đoàn ngày ngày huấn
luyện đêm canh gác. Khí hậu ở vùng này rất khắc nghiệt: nắng nhiều, và ở đây
rất thiếu nước ngọt. Đơn vị hàng ngày bố trí 2 xe GMC chở téc xuống thị xã Châu
Đốc để chở nước. Nước ngọt chỉ đủ cho nấu ăn và nước uống không cho sử dụng các
nhu cầu khác. Nên khi xe đi lấy nước thì các đơn vị luân phiên nhau cử bộ
đội theo xe đi tắm ở nhà máy nước Châu Đốc, mỗi xe ba người đứng trên xe ở vị
trí giữa téc nước và ca-bin, xe chạy tốc đọ cao rất nguy hiểm (nhưng ngày đó
thấy bình thường, chiến tranh đánh nhau còn chẳng sợ nữa). Một tuần mới được đi
tắm một lần. Nhưng cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao. Nay nhìn lại mới
thấy đúng là mỗi chiến sĩ là một anh hùng , đúng thật!
Đơn
vị tăng cường huấn luyện ban ngày, đêm gác. Các buổi chiều thể thao, tăng gia.
Đêm đến văn nghệ. Vui theo kiểu cái vui của người lính. Cái nhớ nhà, nhớ quê
hương “dấu”ở trong lòng.
Khi
đồn trú ở đây, đơn vị không cho hòm thư viết thư về nhà sợ lộ “ bí mật quân
sự”; nên bộ đội ra các nhà dân “quan hệ” với các gia đình “mượn địa chỉ” viết
thư. Thư lính gửi đi, thư gia đình, người yêu của lính đến. Nhận thư thay nhau
đọc; một thằng có thư coi như niềm vui của đơn vị, vui chung, chẳng có gì mà
dấu nhau. Đời lính là thế càng gian khổ, càng khó khăn càng thương yêu nhau hết
lòng không mảy may vụ lợi! Cốc nước uống chung, điếu thuốc chia đôi, cánh thư
đọc chung... Đời lính là thế.
Ngày
1/4/1976 một bất ngờ đến với tôi, tôi được Bộ quốc phòng thông báo cho ra Bắc
an dưỡng và học tập (chưa phải ra quân). Theo thông báo của đồng chí chính trị
viên đại đội: chuẩn bị có đợt cho ra Bắc để an dưỡng và học tập (đợt 3; trước
tháng 4/76 có 2 đợt: đợt một (ngay sau ngày 30/4/1975): là thương bệnh binh;
đợt hai: là những đồng chí có sức khỏe yếu và tuổi cao) đối với các đồng chí có
trình độ văn hóa lớp 10. Và đơn vị tôi lúc đó cả một đại đội có hai người, có
tôi. Đợt 3 là đợt: những người khi trước đi bộ đội đang học ở các trường trung
học, đại học và những người có trình độ văn hóa lớp 10; được về lại trường học.
Nói nôm na là đợt nhân tài của đất nước.
Chiều
1/4/1976; trên đường đi tập về (có báo cáo Tiểu đội trưởng) Vũ rủ tôi đi chơi;
khi đóng quân ở Chi lăng chúng tôi có quen một gia đình người Khmer. Gia
đình này cư trú ở đây rất lâu đời, nhà có 2 vợ chồng và 2 đứa con; một trai một
gái đầu. Anh chị làm nghề nông và nuôi bò. Khi đến Vũ nói chuyện tôi chuẩn bị
ra Bắc, anh chị hỏi “bao giờ đi?”; tôi nói “quân sự không báo trước, có lệnh là
đi !”. Chiều tà anh chị mổ 2 con vịt làm món “vịt xé phay’ uống la-de coi như
làm cái liên hoan chia tay, hai cháu nhỏ còn tặng ảnh gia đình, lòng thấy cảm
động lắm. Lúc ra về anh chị và các cháu đi cùng đến gần chợ Chi Lăng thì chia
tay, thấy bịn rịn . Đến chập chập tối về doanh trại. Thấy lòng nao nao
sắp phải xa nơi này ít có dịp quay lại, xa đồng đội vào sinh ra tử có
nhau, nhớ nhiều thứ nữa. Nhưng cái vui nhiều hơn về Bắc với cha, mẹ với các em
và bạn bè nhiều lắm.
Khoảng
3 giờ sáng ngày 2/4/1976; trực ban báo động chiến đấu cả đơn vị. Tất cả sẵn
sàng quân tư trang. Đại đội trưởng Nguyễn Hạnh Phúc đọc quyết định hai đồng chí
“đi A” là ra Bắc. Tài vụ phát cho mỗi người 30 đồng gọi là tiền “cửa rừng”!
Phát cho bộ đội mua sắm quà kỉ niệm chiến trường Miền Nam! Chính thức tôi xa
đồng đội cùng chung chiến trường xa Vũ từ hôm nay.
Đơn
vị dùng xe GMC chở hai chúng tôi lên thẳng tổng kho Long Thành và giao quân cho
Bộ quốc phòng. Từ đây tôi được biết là có hàng nghìn quân nhân được “đi A” ; Bộ
quốc phòng huy động “trưng tập” rất nhiều “xe đò” xe chở khách loại lớn, mỗi xe
chở 25 đến 30 chiến sĩ . Phía trước xe quân cảnh dẫn đường; qua nhiều binh trạm
và trạm cuối cùng là Thường Tín- Hà Tây.
Sau
khi an đưỡng một tuần ở Thường Tín chúng tôi được chia về các tỉnh, bộ đội tỉnh
nào về khu an dưỡng của tỉnh đó. Tại đây chúng tôi được phân loại: ai đang học
đại học trường nào trả về trường đó, nếu không thích thì ôn thi trường khác.
Tôi về Hà Nam Ninh. Tỉnh Hà-Nam-Ninh thì đưa về an dưỡng ở xã Gia Sinh, huyện
Gia Viễn , tỉnh Hà Nam Ninh.
Tôi
được đơn vị mới cho “về tranh thủ” 5 ngày thăm gia đình.Như bao người lính
khác, sau ngày giải phóng, nhiều người lính trở về hậu phương, “ hình ảnh quen
thuộc là một anh chiến sĩ vai khoác balô, đầu đội mũ cối quân hiệu nửa xanh-nửa
đỏ, chân đi đôi dép cao su, trên lưng có con búp bê, hồn nhiên bước trên hè
phố” hoặc ra bến tàu về thăm nhà ; Tôi cũng vậy , vì tôi có đứa em
gái nhỏ tôi mua cho nó một con búp bê có “mắt nhắm mắt mở” em tôi thích lắm; và
tôi cũng có quà cho cha mẹ . Cả nhà vui lắm, mừng rỡ hàn huyên. Hết phép tôi về
đơn vị an dưỡng.
Suốt từ cuối tháng 4/1976 chúng tôi
được ôn văn hóa buổi sáng do các giáo viên trưng tập ở các trường trong tỉnh về
dậy. Buổi chiều rèn luyện thân thể bằng hình thức là vác đất, xây dựng nhà máy
gạch sông Tranh. Đến tháng 7 thi tốt nghiệp (tôi thi có 2 nguyện vọng:
trường Đại học giao thông vận tải và Trung cấp giao thông vận tải). Đến tháng
10/1976 nhận thông báo tôi không đỗ Đại học; quân đội cử đi học trung cấp và
tôi vui vẻ lên vùng trung du Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phú học trung cấp giao thông
vận tải đường bộ.
Tôi
lên công tác ở huyện Hoàng Su Phì là huyện biên giới; khi cuộc chiến tranh chống lấn chiếm
biên giới Trung Quốc phát động nổ
ra hơn một năm và đang ngày càng ác liệt. Nghe ngóng về thời sự : Lúc này
tình hình quan hệ Việt Nam và Trung quốc đang trong giai đoạn bắt đầu căng
thẳng , xấu đi. Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc đã rút về nước ,
chuyện anh hùng Lê Đình Trinh trên biên giới Lạng Sơn được đăng tải nhiều số
trên báo Quân đội, trong bài “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, đất
nước chúng ta vào cuộc chiến đấu mới..”; ở biên giới Tây nam của ta trên
toàn tuyến thấy đánh nhau rất căng , lính Pôn Pốt xâm phạm lãnh thổ
gây nhiều cảnh chết chóc , đài báo ta liên tục thông tin hàng ngày
, một cuộc chiến tranh mới đã nổ ra và chúng ta lại một lần nữa phải cầm
súng đứng lên và phải ra mặt trận là điều khó tránh khỏi. Cùng lúc
chúng ta có chiến sự ở hai đầu biên giới Tây nam và biên giới phía Bắc!
Theo tư liệu của ta: “ Mục tiêu của Trung Quốc là muốn nhanh chóng chiếm đóng vùng biên giới Việt-Trung, đặc biệt là các thị xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối QL 1 A của Việt Nam với Trung Quốc), Cao Bằng và Lào Cai Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam.
Tiêu
hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự phía Việt Nam bằng việc
quét sạch các đồn biên phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa phương và
các đơn vị quân độc lập khác của Việt Nam.
Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ sụp đổ. Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quản Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Caii). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên Ngoài lực lượng quân chính qui, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính qui phục vụ cho chiến dịch, chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh ; Hà Tuyên (nay là Hà Giang và Tuyên Quang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn”.
Mặt trận ở Hà Giang phải
nói là ác liệt nhất là: huyện Vị Xuyên như “chảo
lửa” bị
quân Trung bắn khoảng 800.000 quả đạn; xã
Pà Vầy Sủ , Chí Cà huyện Xín Mần giáp huyện Hoàng Su Phì ngày đêm
dền vang tiếng đạn pháo của quân Trung Quốc . Xã
Bản Máy huyện Hoàng Su Phì, nơi tôi công tác là chiến tranh cũng rất ác
liệt ,ban
ngày tiếng đạn pháo, tiếng súng dền vang, ban đêm Trung Quốc cho
thám báo sang đất ta bắt cóc dân thường, bắt cóc dân quân tự vệ ở các điểm chốt.
Thời kì này huyện Hoàng Su Phì xác định “vừa công tác vừa phục vụ chiến đấu,
sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên giới”. Đến đầu năm 1985 chiến tranh
diễn ra ác liệt huyện sơ tán về tuyến 2 ở xã Nam Sơn cùng huyện .
Đến tháng 10/1991
hòa bình đã lập lại trên miền biên giới của huyện Hoàng Su Phì. Cuộc sống mới
đã hồi sinh nơi đây; mười năm sau chiến tranh biên giới huyện Hoàng Su Phì ngày
nay đang phát triển đi lên “huyện ngày càng to đẹp hơn và đàng hoàng hơn”.
Trong
thời kì chiến tranh biên giới có nhiều sáng kiến trong việc thi công cầu, đường
dân sinh phục chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của bộ đội ta; tham mưu hoàn
thành mở thông 100% các tuyến đường ô tô đi được từ trung huyện về trung tâm 27
xã của huyện Hoàng Su phì. Được tặng thưởng nhiều: danh hiệu “Chiến sĩ
thi đua cấp tỉnh” ba lần ; danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp huyện” mười
lần; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, huy chương 3 bộ, Kỉ niệm chương 4 bộ;
Nhiều Bằng và Giấy khen của các Bộ ngành và UBND tỉnh, huyện Hoàng Su Phì. Với
thành tích xuất sắc trong phục vụ chiến đấu ở mặt trận Hoàng Su Phì được Chủ
tịch nước tặng Huân chương lao động hạng 3 năm 2010 ; Xứng danh với hình ảnh
“anh Bộ đội cụ hồ” trong các thời kì.
Còn chuyện về Vũ kể từ khi chia tay sáng sớm 2/4/1976 tại
căn cứ thiết giáp Chi Lăng ở huyện Tri Tôn ; tỉnh An Giang, lúc này cả Tôi và
Vũ đều là Binh nhất; khi về an dưỡng ở Hà Nam Ninh tôi lên Hạ Sĩ; còn Vũ vẫn là
Binh Nhất.
Khoảng tháng 6/1976 do tình hình biên giới Tây nam có
nhiều biến động. Đơn vị và Vũ di chuyển về huấn luyện tại căn cứ pháo binh ở
tỉnh Rạch Giá; tập bắn các tọa độ biển.
Đến năm 1977; Cuộc tấn công đầu tiên của quân Khmer
Đỏ diễn ra vào tháng 4 năm 1977, tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm
một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ
hai diễn ra vào tháng 10 cùng năm, lần này quân Khmer Đỏ tiến sâu đến 15 km
trong lãnh thổ Việt Nam. Hơn 30 vạn người dọc biên giới phải tản cư về phía
sau, 6 vạn hecta đất sản xuất bị bỏ hoang.
Theo
nhiều tài liệu:“Ngày 1/2/1978,
Trung ương Đảng Cộng sản của Pôn Pốt họp
bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn. Trong nghị
quyết của họ có ghi: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài
ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1
diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt
Nam". Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn quân chủ lực và một số trung
đoàn địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới
15-20 km. Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã thực hiện thảm sát đối với
người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc vào tháng 4 năm 1978 với 3157
dân thường bị giết hại. Từ tháng 12 năm 1977 đến 14 tháng 6 năm 1978, phía Việt
Nam bị thương vong nhiều người. Hơn 30 vạn người phải tản cư về phía sau,
bỏ hoang 6 vạn ha đất sản xuất.
Ngày 13/12/1978, được sự trang
bị và hậu thuẫn của Trung Quốc, Khmer Đỏ đã huy động 10 trong 19 sư đoàn
(khoảng 50.000 đến 60.000 quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến
biên giới. Ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư
đoàn đánh vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang),
1 sư đoàn đánh Trà Phô, Trà Tiến (Kiên Giang). Tại những vùng chiếm đóng, Khmer
Đỏ đã thực hiện sách lược diệt chủng đối với người Việt, như đã làm với người
Khmer”.
Trong
thời gian đơn vị huấn luyện ở Rạch Giá Vũ được đi học sĩ quan và lên đến chức
đại đội phó với quân hàm trung úy; và tham gia giải phóng Campuchia và
đơn vị đã tiến đến tỉnh Siêm Diệp (Siem Reap) của Campuchia:
đơn vị vẫn trực thuộc sư đoàn 4 –quân khu 9. Theo tài liệu triển khai lực lượng
của quân khu 9: “ Đơn vị hành quân tham gia chiến dịch giải phóng
Campuchia trong đội hình thế trận của sư đoàn 4-Quân khu 9, quân ta phản kích
địch ở nhiều nơi. Sư đoàn 339 tổ chức nhiều trận đánh ở khu vực Gò Rượi, Gò
Viết Thuộc, Gò Châu Giang, Đứt Gò Suông, đuổi địch về bên kia biên giới. Sư
đoàn 4, Trung đoàn 2 (Sư đoàn 8) và Trung đoàn 2 (Sư đoàn 330) phối hợp với các
lực lượng vũ trang đỉa phương tập trung đánh địch, khôi phục toàn bộ khu vực
Rộc Xây. Sư đoàn 8 (thiếu Trung đoàn 2) mở cuộc phản công khôi phục lại khu vực
bắc Hà Tiên.
Sau khi hành quân vào vị trí tập kết ở
khu vực xã Tri Tôn, huyện Bảy Núi (tỉnh Kiên Giang), Quân đoàn 2 (thiếu
Sư đoàn 306) được tăng cường Sư đoàn 8 (Quân khu 9), được Tiền phương Bộ Quốc
phòng giao nhiệm vụ phối hợp với Quân khu 9 và hiệp đồng với không quân, hải
quân chiến đấu trên dải biên giới từ Châu Đốc ra tới biển và tổ chức chiến dịch
tiến công trên hướng Tây Nam.
Đối tượng tác chiến trước mắt của Quân
đoàn là Quân khu Đông Nam của địch (lực lượng có 4 sư đoàn bộ binh (210, 230,
250, 270) và sư đoàn lính thủy đánh bộ 164. Tổng số quân khoảng 35.000 tên với
5 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn xe tăng và hơn 100 tàu, xuồng chiến đấu). Ngày 31
tháng 12 năm 1978, Quân đoàn 2 và lực lượng vũ trang Quân khu 9 nổ súng đánh
địch ở khu vực kênh Vĩnh Tế, thu hồi phần đất cuối cùng của Tổ quốc bị kẻ thù
lấn chiếm trái phép.
Trong 9 ngày đêm (từ ngày 23 đến ngày 31
tháng 12 năm 1978), bằng các đòn phản công, tiến công quyết liệt kế tiếp nhau,
quân và dân ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt, thu hồi
toàn bộ vùng chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm, kết thúc thắng
lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, tạo điều kiện thuận
lợi cho các lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt
chủng, xây dựng lại đất nước”.
Và
một tuần sau tôi đã chủ động đưa Mẹ tôi tới nhà Vũ và Vũ cũng mời hai bà mẹ :
Mẹ Vũ và Mẹ Tôi đến giao lưu thăm nhà ở của vợ chồng Vũ, trong ngày này
Vũ thông tin cho tất cả con cái nghỉ việc để cùng liên hoan. Như mọi người
thường nói là kết thúc có hậu và ở chúng tôi đúng như vậy. Hạnh phúc đời thường
giản dị và đẹp như vậy đấy./.
(Ngô Lê Lợi- Hồi kí về cuộc kháng chiến chống Mỹ -Ngụy-
Hà Nội 6/2012 )