Lời
đầu: Khi bản thảo Hồi kí viết xong, tác giả đã gửi cho anh Nguyễ Hữu Chí; nguyên là Phó Chủ tich, Chủ tịch UBND huyện Hoàng
Su Phì để nhờ anh góp ý : “Ngày 27/9/2026. Hay Lắm Anh Lợi. Đọc Hồi Ký về tuyến đường Bản Máy
của anh tôi thật sự súc động. Tuy tuổi chưa cao, nhưng sức khoẻ kém nên tôi
không còn được minh mẫn, sáng suốt như anh. Hỏi tôi về những chi tiết nhỏ như
ngày, tháng, năm … Tôi thật sự không còn nhớ chính sác. Nhưng ký ức trong tôi
thì vẫn còn nguyên.
Đúng là tôi được giao nhiệm vụ tháp tùng đoàn cán bộ cấp cao đi khảo
sát tình hình biên giới. Lý do ngày ấy thật đơn giản: Bí thư Huyện uỷ nói: Cậu
là người trẻ nhất trong số lãnh đạo huyện, cậu đi theo đoàn là đúng rồi. Từ
trung tâm huyện tôi mang theo 1 nắm cơm rất to, ½ con gà luộc, muối, nước uống.
Tất cả cho vào ba lô đeo sau lưng và hành trình đi bộ: Từ trung tâm huyện đến
Bản Máy. Qua đất Chiến Phố đến Đồi Dài, tôi mời anh Mạnh và các anh dừng chân
nghỉ ăn trưa. Mọi người đồng ý tất cả trú vào vườn sắn của dân để tránh nắng.
Tôi lấy cơm nắm, thức ăn, nước uống mời các anh. Nhưng vì đi bộ, leo dốc một
chặng đường dài, mệt nên mọi người chỉ uống nước, nằm dài trên thảm cỏ trong
vườn sắn nghỉ ngơi. Anh Mạnh có nói với tôi: “Trong cuộc đời công tác, trải qua
nhiều khó khăn vất vả, nhưng đây là lần đầu tớ đi bộ xa như thế này”. Tất nhiên
rồi Tôi là chuyên gia quốc bộ còn mệt, huống chi các anh. Thương các anh nhiều
nhưng không thể làm gì. Thế rồi chiều tối chúng tôi cũng đến đích. Đồn biên
Phòng Bản Máy, chúng tôi ăn tối và qua đêm tại đây”.
Bút
ký của Ngô Lê Lợi
Nguyên Trưởng phòng Giao thông - Xây dựng huyện Hoàng Su Phì
Có những chuyện xảy ra trong cuộc
đời công tác tưởng như rất bình thường, vậy mà càng về sau càng thấy đáng nhớ.
Có những cuộc gặp chỉ kéo dài một
bữa cơm, một cái bắt tay, một bát rượu, nhưng nhiều năm sau ngoảnh lại, mới
thấy nó gắn với cả một chặng đường.
Với tôi, câu chuyện về con đường vào
Bản Máy là như vậy.
Đó là câu chuyện của một con đường
giữa núi rừng Hà Giang, của những năm tháng đất nước còn rất khó khăn, của
những người lính biên phòng sống giữa gian khổ, và của một cuộc gặp mà mãi năm
năm sau tôi mới biết người đã ngồi ăn cơm, uống rượu với mình hôm ấy là ai.
Điều tôi nhớ nhất không phải chức
vụ, cũng không phải những lời lẽ lớn lao.
Tôi nhớ một người đàn ông nhỏ nhắn,
mặc quần áo đồng bào, một cái bắt tay rất ấm và một câu nói ngắn gọn: “Nhất
trí nhé.”
Và tôi nhớ mãi một bát rượu.
1. Từ hậu cứ Nam Sơn
trở về huyện lị Hoàng Su phì.
Năm 1988, huyện Hoàng Su Phì vẫn còn
đóng ở khu vực hậu cứ Nam Sơn. Đến tháng 11 năm ấy, huyện bắt đầu chuyển trở
lại huyện lỵ.
Lúc đó tôi đang công tác ở Phòng
Giao thông - Xây dựng huyện.
Công việc chuyển huyện lỵ trở về rất
vất vả. Đường sá khó khăn, phương tiện thiếu thốn. Tôi được UBND huyện giao hợp đồng với Sở Giao thông vận tải Hà
Tuyên sử dụng khoảng 100 chuyến xe ZIL-130 để vận chuyển các cơ quan, vật tư,
đồ đạc về huyện lỵ.
Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1988,
công việc vận chuyển đã cơ bản hoàn thành được khoảng 80%. Nhưng sang năm 1989,
vẫn còn cơ quan vẫn tiếp tục chuyển dần
về, nên sáng chiều vẫn vào ra hậu cứ kiểm tra các cơ quan chuyển về huyện.
Cùng lúc đó, công việc của Phòng
Giao thông - Xây dựng vẫn phải làm. Ngoài sửa chữa tuyến tỉnh lộ, chúng tôi còn
phải lo mở đường dân sinh, phục vụ đi lại, sản xuất và đời sống của đồng bào
các xã vùng cao.
Những năm ấy, Hoàng Su Phì nghèo và
khó khăn lắm.
Cả huyện lúc đó chỉ có khoảng 60 km
tỉnh lộ 177. Đường vào các xã phần lớn là đường đất, đường dân sinh, mùa mưa đi
lại rất khó khăn.
Trong thời kỳ chiến tranh, huyện đã
mở một số tuyến đường phục vụ yêu cầu trước mắt.
Một tuyến từ Km 5 đi Tân Tiến dài
khoảng 5,5 km.
Một tuyến khác từ Vinh Quang dài khoảng 19 km đi qua Tụ Nhân, Chiến Phố lên
gần chân Đồi Dài.
Con đường 19 km ấy chủ yếu là đường
đất, nền đường rộng khoảng 3,5 đến 5 mét. Tuyến đường được mở từ mùa khô năm
1984 phục vụ chủ yếu hậu cần cho quân đội và hàng thiết yếu phục vụ Nhân dân biên
giới. Đường đi được mùa khô.
Nhưng đường đất vùng cao thì nhanh xuống cấp.
Có những đoạn xe đi được một mùa,
sang mùa mưa lại hỏng.
Từ Đồi Dài đi tiếp vào Bản Máy lúc
đó vẫn chưa có đường ô tô. Chỉ có đường dân sinh, đường mòn của đồng bào làm nương,
rẫy.
Mỗi lần nghĩ đến việc đưa xe vào
những nơi ấy, chúng tôi đều thấy trước mắt mình là cả một bài toán rất khó.
Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, ý
nghĩ phải có một con đường vào Bản Máy đã hình thành trong tôi.
Tôi nghĩ đơn giản thôi: nếu sau này
đất nước hòa bình, đời sống khá lên, nhất định phải làm được con đường này.
2. Một chuyên đi
cuối tháng 11 năm 1989.
Cuối tháng 11 năm 1989, Bí thư Huyện
ủy Hoàng Minh Nhất gọi tôi lên phòng làm việc tại khu nhà Huyện ủy tạm trên đồi
cao (trước là huyện ủy cũ khi sơ tán vào Nam Sơn đã tháo dỡ để chuyển vào hậu
cứ hết).
Anh cử tôi đi công tác kiểm tra tuyến đường từ dốc
Huyện đội lên Đồi Dài và ở đại đội 1 thuộc D6 chờ nhiệm vụ tiếp.
“Mãi
đến bây giờ tôi mới biết cụ thể chuyến thăm thị sát Bản Máy của đoàn cán bộ
Trung ương năm xưa: Chuyến đi thực tế cuối tháng 11/1989 đến xã biên giới Bản
Máy (huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Tuyên cũ) diễn ra ngay sau khi Bộ Chính trị
ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 về chủ trương, chính
sách phát triển kinh tế – xã hội miền núi. Ở thời điểm đó, ông Nông Đức Mạnh
vừa đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Dân tộc Trung ương. Đoàn công tác có 4
ủy viên Trung ương Đảng.
Dựa
trên thông tin lịch sử của thời kỳ đó, chân dung của 3 vị Ủy viên Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (BCHTW) đi cùng đoàn gồm có: Ông Nguyễn Văn Đức : Ủy viên BCHTW
Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tuyên (giai đoạn 1986 – 1991) người trực tiếp tháp tùng
đoàn lãnh đạo Trung ương đi sát sao địa bàn biên giới trọng điểm của tỉnh lúc bấy giờ. Ủy viên BCHTW phụ trách An ninh –
Quốc phòng của Quốc hội nhằm khảo sát an
ninh phên dậu Tổ quốc. Ủy viên BCHTW phụ trách Quân khu 2.
Thời
điểm năm 1989, tình hình biên giới phía Bắc (đặc biệt là mặt trận vị trí dọc Hà
Tuyên như Vị Xuyên, Hoàng Su Phì) cực kỳ trọng yếu.
Chuyến đi đến một xã vùng cao hẻo
lánh, đặc biệt khó khăn như Bản Máy của bốn vị Ủy viên Trung ương Đảng vào cuối
năm 1989 mang ý nghĩa chiến lược: vừa trực tiếp đưa Nghị quyết 22 của Đảng vào
cuộc sống, vừa kiểm tra công tác củng cố tuyến phòng thủ biên giới, đồng thời
nắm bắt tâm tư, chăm lo đời sống an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số nơi
đây ”
Lúc ấy tôi khoảng 34 tuổi, còn trẻ,
công việc thì nhiều, đi đâu cũng quen với đường núi và những chuyến đi gian
khổ.
Nhưng lần này được Bí thư Hoàng Minh
Nhất dặn rất kỹ: “Nếu được bố trí gặp đoàn cán bộ Trung ương, nếu được mời ăn
cơm thì phải giữ ý, tuyệt đối không được uống say”.
Tôi hiểu ý anh.
Ngày ấy, lên vùng cao, khách quý đến
nhà hay đến đơn vị, chuyện mời nhau chén rượu là rất tự nhiên. Rượu không chỉ
để uống mà còn là cách đồng bào thể hiện tình cảm, sự quý trọng đối với khách.
Nhưng tôi được dặn trước, nên trong
đầu đã xác định là chỉ uống xã giao.
Khoảng hơn 13 giờ, tôi được một
chiếc U-oát của Huyện đội đưa lên phía Đồi Dài.
Đường trơn, lầy lội. Chiếc xe đi
được một đoạn thì không thể đi tiếp. Xe lại đang bị hỏng một cầu nên càng khó
vượt qua đường núi.
Tôi xuống xe và đi bộ.
Gần một giờ sau mới đến được C1.
C1 lúc ấy là một điểm đóng chốt ở
mỏm đồi Dài; đây là cứ. Tôi gặp anh Toàn, Đại phó. Từ đây đi khoảng 700 m đến 1
km là chốt chính ở mỏm đồi cụt .
Tôi hỏi tình hình thì được biết một
đồng chí Phó Chủ tịch huyện là anh Nguyễn Hữu Chí đã đi vào Bản Máy để kiểm tra
công việc.
Tôi ở lại C1 chờ chỉ thị.
Chỗ nghỉ của anh em lúc ấy rất đơn
sơ. Một căn hầm nửa chìm nửa nổi, mái chỉ nhô lên khỏi mặt đất một chút, bên
trên lợp tranh và phủ giấy dầu.
Trong phòng chỉ có hai chiếc giường.
Một chiếc của anh Toàn, một chiếc
dành cho tôi.
Tối hôm ấy, anh Toàn làm thịt một
con gà.
Tôi nhớ lời dặn nên không uống rượu.
Sáng hôm sau, bữa sáng là cơm với
thịt hộp. Bữa trưa có món thịt xào mặn.
Những bữa ăn như thế bây giờ nghĩ
lại thấy rất đỗi bình thường, nhưng trong hoàn cảnh năm ấy, đó là những bữa ăn
của tình đồng đội, tình đồng chí giữa những người sống và làm việc ở nơi núi
rừng xa xôi.
Khoảng 14 giờ hôm sau, anh Toàn bảo
tôi vào Bản Máy.
Trước khi đi, anh bảo tôi thay quần
áo.
Không mặc quần áo cán bộ nữa mà mặc
bộ quần áo Tà phủ của đồng bào địa phương.
Anh còn cho tôi mượn một chiếc túi
truyền thống để đeo.
Tôi hơi bất ngờ nhưng cũng làm theo.
Đoàn đi gồm một tổ trinh sát đi phía
trước khoảng ba, bốn người, phía sau
cũng có vài người. Mọi người đều mặc quần áo đồng bào.
Khoảng cách giữa các nhóm chừng hơn
một trăm mét để vừa bảo đảm an toàn, vừa giữ bí mật trong điều kiện vùng biên
giới lúc đó.
Chúng tôi đi bộ.
Từ C1 vào Bản Máy phải đi qua những
con đường núi, dốc và trơn trượt.
Đi khoảng 7-8 km thì tới khu vực cầu
treo Suối Đỏ.
Tại cầu Suối Đỏ ngày xưa (nằm trên tuyến đường độc nhất nối từ trung tâm
huyện Hoàng Su Phì qua xã Tụ Nhân, xã Chiến Phố để vào xã Bản Máy).
Vị trí thiên
nhiên này : Hố neo cáp bên Chiến phố là thôn Mỏ Phìn, còn hố neo cáp phía Bản Máy
thuộc cụm dân cư Hoa Sì Pan.
Cầu nằm tại khe suối Đỏ, khu vực thượng
nguồn suối Đỏ — dòng suối ngoằn ngoèo chảy dọc và phân chia ranh giới tự nhiên
trong vùng.
Cây cầu này
đóng vai trò là điểm nút giao thông quan trọng trong thời kì chiến tranh bảo việ biên giới
Bản Máy và cũng là lối rẽ ngã ba đặc trưng để
di chuyển tiếp lên xã Bản Phùng (rẽ trái sau khi qua cầu) hoặc đi thẳng
để tiến sâu vào xã Bản Máy.
Tại đây chúng tôi gặp khoảng năm,
sáu cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bản Máy.
Anh em bộ đội đưa tôi tiếp tục đi sâu vào đất thuộc khu Hoa Si Pan.
Sau hơn hai cây số, chúng tôi đến một cái chuồng ngựa của đồng bào La Chí.
Hai chiến sĩ ở lại đó với tôi.
Tôi được bố trí nghỉ tạm tại đây.
3.Bữa cơm trong đêm
gió lạnh.
Khoảng 19 giờ. Trời đã tối.
Gió từ khe suối thổi lên lạnh buốt.
Một đồng chí trong đơn vị đến mời
tôi về đồn ăn cơm.
Hai chiến sĩ vẫn ở lại chuồng ngựa
làm nhiệm vụ canh gác.
Tôi đi theo anh em về đồn.
Khu đồn nằm dưới chân núi Hoa Sì
Pan, gồm những dãy lán thấp. Nhà làm chìm dưới đất, mái lợp tranh và giấy dầu.
Bếp của đồn lúc ấy có khoảng năm,
sáu người đang chờ ăn.
Hôm đó đơn vị làm thịt một con dê.
Trong hoàn cảnh vùng biên giới ngày
ấy, một bữa cơm như vậy có thể coi là khá tươm tất.
Mọi người vừa ngồi vào mâm thì có
một chiến sĩ gọi:
“Anh Lợi, lên nhà chỉ huy.”
Tôi đi theo.
Căn nhà chỉ huy khi ấy cũng rất đơn
sơ. Nhà thấp, tựa lưng vào núi. Xung quanh còn có những căn lán, hầm trú ẩn và
các công trình phục vụ nhiệm vụ biên phòng.
Trong nhà có một chiếc bàn dài.
Mọi người ngồi hai bên, mỗi bên
khoảng bốn, năm người.
Đối diện cửa ra vào là một người đàn
ông mà lúc ấy tôi hoàn toàn không biết là ai.
Ông mặc quần áo của đồng bào.
Dáng người nhỏ nhắn.
Nếu chỉ nhìn qua, tôi không nghĩ đó
là một cán bộ Trung ương.
Tôi được xếp ngồi cạnh ông.
Đồng chí chỉ huy đồn ngồi đối diện.
Rồi anh em mang ra một chiếc bát
Chiết yêu.
Đó là loại bát có miệng loe, thân thu
nhỏ dần xuống đáy, kiểu bát thường thấy trong đời sống của đồng bào vùng cao.
Mọi người bắt đầu ăn.
Người đàn ông ngồi cạnh tôi hỏi
chuyện.
Ông hỏi về công việc, về đường sá,
về tình hình địa phương.
Tôi trả lời những gì mình biết.
Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đây là một cán
bộ đi cùng đoàn công tác.
Tôi không biết tên.
Không biết chức vụ.
Cũng không hề nghĩ rằng cuộc gặp
ngắn ngủi ấy sau này lại trở thành một kỷ niệm đặc biệt trong cuộc đời công tác
của mình.
Có một chi tiết đến tận bây giờ tôi
vẫn nhớ rất rõ.
Khi bắt tay ông, tôi thấy bàn tay
ông rất ấm.
Giữa cái lạnh của núi rừng Bản Máy,
trong căn nhà đơn sơ tựa lưng vào núi, cái bắt tay ấy khiến tôi có một cảm giác
rất gần gũi.
Một người mặc quần áo đồng bào, dáng
người nhỏ nhắn, nói chuyện giản dị.
Tôi không hề biết mình đang ngồi
cạnh ai.
4. “Sau này nếu đất nước hòa bình….”
Trong bữa cơm hôm ấy, câu chuyện
chuyển sang việc đường sá và cuộc sống của người dân.
Người đàn ông ấy hỏi tôi:
“Sau này nếu đất nước hòa bình thì
chú có đề đạt gì không?”
Tôi suy nghĩ một lát rồi nói thật
những điều mình đang nghĩ.
Tôi nói rằng tôi về Hoàng Su Phì
công tác trong lúc đất nước vẫn còn chiến tranh, huyện còn rất nghèo và đường
sá vô cùng khó khăn.
Cả huyện chỉ có khoảng 60 km tỉnh lộ
177.
Huyện đã mở được tuyến Km 5 - Tân
Tiến khoảng 5,5 km và tuyến đường khoảng 19 km qua Tụ Nhân, Chiến Phố lên Đồi
Dài.
Ngoài ra còn có hàng trăm ki-lô-mét
đường dân sinh phục vụ đồng bào.
Nhưng từ Đồi Dài vào Bản Máy thì chưa
có đường ô tô.
Tôi nói:
“Nếu sau này đất nước hòa bình, tôi
chỉ mong có điều kiện xin được đầu tư làm con đường từ huyện lỵ vào đến đây.
Khoảng hơn 30 km, chừng 34 km. Con đường ấy sẽ phục vụ bà con Tụ Nhân, Chiến
Phố, Bản Máy, đồng thời giúp anh em bộ đội biên phòng đỡ vất vả hơn.”
Tôi nói bằng suy nghĩ của một người
làm giao thông ở huyện.
Không có ý nghĩ gì lớn lao.
Chỉ nghĩ rằng có đường thì dân bớt
khổ.
Có đường thì hàng hóa vào được.
Có đường thì cán bộ, bộ đội đi lại
thuận lợi.
Có đường thì vùng biên giới sẽ gần
hơn với miền xuôi.
Người đàn ông ấy im lặng một lúc.
Rồi ông nắm tay tôi và nói:
“Nhất trí nhé.”
Chỉ hai tiếng ấy thôi.
Nhưng với tôi, nó ở lại trong ký ức
suốt nhiều năm.
Sau đó, ông mời tôi uống một bát
rượu.
Tôi nhớ lời anh Nhất dặn, nhưng
trong một bữa cơm như thế, từ chối hoàn toàn thì cũng không tiện.
Tôi nâng bát rượu.
Có người nói với tôi:
“Anh mời anh ấy đi.”
Tôi quay sang mời.
Ông cũng uống.
Tôi uống.
Một bát rượu trong một đêm lạnh ở
vùng biên giới.
Không ai lúc đó biết rằng nhiều năm
sau, tôi sẽ nhớ đến bát rượu ấy như một dấu mốc trong câu chuyện về con đường
Bản Máy.
5. Sáu năm sau tôi
mới biết người đó là ai?
Sau chuyến đi ấy, tôi trở lại công
việc thường ngày.
Cuộc sống cứ thế trôi đi.
Tôi vẫn làm công tác giao thông, vẫn
đi kiểm tra đường sá, vẫn lo sửa chữa và mở những tuyến đường phục vụ dân sinh.
Tôi không nghĩ nhiều về người đàn
ông mặc quần áo đồng bào hôm ấy.
Bởi tôi thậm chí còn không biết tên
ông.
Mãi đến năm 1994, khi huyện xây dựng
kế hoạch giao thông và tỉnh đã đồng ý chủ trương ưu tiên tuyến Hoàng Su Phì –
Bản Máy, câu chuyện cũ mới trở lại.
Tuyến đường được xác định có ý nghĩa
phục vụ các xã Tụ Nhân, Chiến Phố, Bản Máy, Đồn Biên phòng Bản Máy và một số vị
trí quân sự trong khu vực, trong đó có khu vực Mào Gà 1660.
Tất cả các khâu chuẩn bị từ khảo sát
đến hồ sơ thi công tỉnh Hà Giang đã phê duyệt. Phần kế hoạch huy động dân công
công ích của huyện đã có phương án , lệnh huy động dân công đã sẵn sàng. Nhưng
cái khó và quyết định là vật liệu nổ và các vách đá cao thì Nhân dân làm rất
khó khăn và có thể xẩy ra tai nạn , vì huy động Nhân dân chỉ làm các phần việc
chân tay còn thi công vách đá yêu cầu công nhân kĩ thuật khoan đá nổ mìn? Sau
nhiều trăn trở làm thế nào có nguồn kinh phí để mua vật liệu nổ và nhân công kĩ
thuật.
Lúc ấy, Bí thư Huyện ủy là anh Vướng
Phát Hữu.
Một hôm anh hỏi tôi: “Chú năm 1989
gặp anh Mạnh nói cái gì, nhớ không?”
Tôi ngạc nhiên.
Tôi nói:
“Em có gặp anh Mạnh bao giờ đâu?”
Anh Hữu nhìn tôi rồi nói:
“Người chú gặp ở Bản Máy năm ấy
chính là anh Nông Đức Mạnh.”
Tôi sững người.
Hóa ra người đàn ông nhỏ nhắn, mặc
quần áo đồng bào, ngồi ăn cơm cạnh tôi sáu năm trước chính là ông Nông Đức
Mạnh.
Lúc đó tôi mới nhớ lại từng chi
tiết.
Bộ quần áo đồng bào.
Dáng người nhỏ.
Cái bắt tay rất ấm.
Câu hỏi về tương lai.
Câu “Nhất trí nhé”.
Và bát rượu hôm ấy.
Tất cả bỗng nhiên trở lại rất rõ.
Anh Hữu hỏi tôi:
“Chú có dám lên Hà Nội gặp anh Mạnh
để xin tiền làm đường không?”
Tôi nói:
“Nếu tỉnh đồng ý thì em đi.”
Tôi đề nghị trước hết phải xin ý kiến
Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Thừa. Nếu tỉnh thống nhất thì tôi sẵn sàng đi.
Bởi tôi hiểu, chuyện xin vốn làm một
con đường lớn không thể chỉ dựa vào một câu chuyện cá nhân.
Nhưng tôi cũng nghĩ đến lời nói năm
nào.“Nhất trí nhé.”
Được tỉnh đồng ý, trước mùa mưa năm
1995, chúng tôi lên đường ra Hà Nội.
Đoàn gồm bốn người:
Anh Vướng Phát Hữu – Bí thư Huyện
ủy.
Tôi – Trưởng phòng Giao thông – Xây
dựng.
Anh Nguyễn Văn Ngọc.
Và anh Đỗ Duy Hường, lái xe Huyện ủy.
Đường từ Hoàng Su Phì về Hà Nội khi
ấy cũng không dễ đi.
Khoảng 13 giờ, chúng tôi đến Hà Nội
nhưng chưa kịp ăn uống gì.
Mấy anh em tìm mãi không có chỗ ăn
phù hợp, cuối cùng vào khu vực Hồ Tây ăn bánh tôm.
Đến hơn 15 giờ, chúng tôi mới tìm
đến nơi làm việc của Quốc hội.
Tại đây, chúng tôi gặp thư ký của
anh Mạnh, tên là Lê Thế Chữ.
Anh Chữ nói anh Mạnh đang điều hành
họp nên rất bận, việc tiếp khách phải có hẹn trước.
Chúng tôi trình bày rằng đoàn từ
Hoàng Su Phì ra, muốn gặp anh Mạnh để báo cáo việc xin vốn làm đường Bản Máy.
Khoảng 17 giờ, thư ký gọi điện vào
báo cáo anh Mạnh.
Vừa nghe điện thoại, anh Chữ vừa
quay ra phía đoàn chúng tôi, nói: “Có ba đồng chí từ Hoàng Su Phì, tỉnh Hà
Giang, nói là có hẹn từ năm 1989.”
Từ chỗ ngồi, chúng tôi nghe rất rõ
tiếng anh Mạnh trả lời:
“Tôi nhớ rồi, cho gặp, chờ tôi nhé.”
Tôi nghe câu ấy mà thấy lòng mình
chùng xuống.
Ông vẫn nhớ.
Nhớ Bản Máy , nhớ Hoàng Su Phì.
Và nhớ cả cuộc gặp năm nào.
Hơn 17 giờ, ông về phòng làm việc
của thư ký.
Chúng tôi bắt tay nhau.
Tôi nhận ra ngay người đàn ông nhỏ
nhắn của sáu năm trước.
Nhưng lần này, hoàn cảnh hoàn toàn
khác.
Ông là một cán bộ lãnh đạo cấp cao,
còn chúng tôi chỉ là những cán bộ huyện miền núi ra Hà Nội xin vốn làm đường.
Anh Mạnh nói mình rất bận, rồi bảo
tôi trình bày.
Tôi báo cáo về tuyến đường Bản Máy.
Tôi nói về sự cần thiết của con
đường.
Tôi nói về mong mỏi của đồng bào
dân tộc vùng cao ước muốn con đường từ
Huyện qua Tụ Nhân, Chiến Phố đến Bản Máy, về Đồn Biên phòng Bản Máy và những
khó khăn trong việc đi lại.
Tôi nói rằng năm ấy, ở Bản Máy, tôi từng đề đạt mong muốn có một con đường vào vùng biên giới. Anh đã nói: “Nhất trí nhé.”Bây giờ tuyến đường đã được tỉnh đưa vào kế hoạch, huyện muốn xin Trung ương hỗ trợ vốn để thực hiện.
Ông Mạnh nghe.
Sau đó ông đồng ý chủ trương và chỉ
đạo làm việc với Bộ Giao thông vận tải.
Ông viết ý kiến trên tờ trình của
tỉnh, đại ý đề nghị Bộ Giao thông vận tải xem xét cho Hà Giang thực hiện một dự
án đường giao thông theo hướng thí điểm, cùng với Mường Tè, Lai Châu.
Lúc ấy tôi hiểu rằng con đường đã có
thêm một cơ hội.
Trước khi chúng tôi ra về, ông Mạnh
nói đáng lẽ muốn mời anh em một bữa cơm, nhưng hôm đó phải tiếp khách quốc tế
nên không thể.
Ông nói lời xin lỗi.
Tôi nhớ mãi câu ấy.
Bởi sáu năm trước, giữa núi rừng Bản
Máy, ông đã cùng chúng tôi ngồi bên một mâm cơm giản dị.
Sáu năm sau, giữa Hà Nội, chúng tôi
lại gặp nhau.
Một cuộc gặp chỉ cách nhau vài năm,
nhưng hoàn cảnh đã khác rất nhiều.
7. Từ
Văn phòng Quốc hội đến Bộ giao thông vận tải.
Sau cuộc gặp, thư ký hướng dẫn chúng
tôi tiếp tục làm việc với Bộ Giao thông vận tải.
Lúc đó đã khá muộn. Chúng tôi tìm đến anh Dũng, thư ký của Bộ trưởng Bùi Danh Lưu.
Anh Dũng vẫn chờ.
Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, anh
cho biết Bộ trưởng lúc đó đang ở Tân Sơn Nhất để chuẩn bị đi công tác.
Chúng tôi tiếp tục trình bày nội
dung.
Sau khi nghe, Bộ trưởng Bùi Danh Lưu chỉ đạo: “Các anh cứ về đi, tôi chỉ đạo cấp sớm nhất có thể.”
Chúng tôi trở về Hoàng Su Phì với
một niềm hy vọng rất lớn.
Đối với một huyện miền núi nghèo như
Hoàng Su Phì khi ấy, một khoản vốn lớn để mở đường là điều không dễ dàng.
Nhưng lần này, chúng tôi đã có cơ sở
để chờ đợi.
8. Con đường Bản Máy
Đến tháng 6 năm 1995, Bộ Giao thông
vận tải cấp cho dự án khoảng 1 tỷ đồng.
Số vốn ban đầu thấp hơn mức huyện đề
nghị khoảng 1,6 tỷ đồng.
Sau đó, nguồn vốn tiếp tục được bổ
sung để đáp ứng nhu cầu thực hiện dự án.
Con đường bắt đầu được triển khai.
Những con dốc ngày trước chỉ có
người và ngựa đi qua; dần vang lên tiếng
máy, tiếng xe.
Những đoạn đường đất từng khiến
chúng tôi phải đi bộ hàng giờ bắt đầu được mở rộng.
Con đường nối từ khu vực huyện lỵ
vào Bản Máy không chỉ là một tuyến giao thông.
Đối với người dân vùng cao, đó là sự
thay đổi của cuộc sống.
Có đường thì nông sản có thể đưa ra
ngoài.
Có đường thì hàng hóa có thể đưa
vào.
Cán bộ đi công tác đỡ vất vả.
Người dân đi khám bệnh, đi học, đi
chợ thuận lợi hơn.
Với những người lính biên phòng, con
đường cũng giúp việc vận chuyển, tiếp tế và đi lại ở vùng biên giới bớt gian
nan.
Tôi không dám nói rằng chỉ từ một
bát rượu hay một câu nói năm 1989 mà con đường được hình thành.
Để có một con đường, còn có chủ
trương của tỉnh, kế hoạch của huyện, hồ sơ, vốn đầu tư, sự chỉ đạo của nhiều cơ
quan và công sức của rất nhiều người.
Nhưng đối với riêng tôi, cuộc gặp
năm 1989 là một kỷ niệm đặc biệt.
Nó cho tôi thêm niềm tin rằng những
mong muốn chính đáng của người dân vùng cao, nếu được nói ra đúng lúc và được
những người có trách nhiệm lắng nghe, có thể trở thành hiện thực.
9. Những người mở đường.
Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy câu
chuyện về con đường Bản Máy không chỉ là chuyện của một người.
Đó là chuyện của rất nhiều người.
Là những cán bộ huyện năm ấy ngày
ngày đi kiểm tra đường sá.
Là những người công nhân của Xí
nghiệp xây dựng Cầu-Đường giao thông Hoàng Su Phì, mở từng mét đường núi và vách đá.
Là đồng bào các dân tộc góp sức, dẫn
đường, giúp đỡ bộ đội và cán bộ.
Là những chiến sĩ biên phòng bám
đồn, bám bản, sống trong những căn nhà đơn sơ giữa vùng biên giới cũng tham gia
mở đường.
Là những người ở tỉnh, ở Bộ, ở Trung
ương đã xem xét và tạo điều kiện để dự án được thực hiện.
Những con đường vùng cao bao giờ
cũng được làm bằng rất nhiều mồ hôi.
Có những người mở đường mà không bao
giờ được nhắc tên.
Có những người chỉ để lại một kỷ
niệm trong trí nhớ của người khác.
Nhưng tất cả đều góp phần làm cho
con đường thành hình.
Tôi nhớ nhất những ngày đầu.
Đường còn là những lối mòn.
Xe không đi được.
Có lúc phải bỏ xe giữa đường rồi đi
bộ.
Có lúc phải mặc quần áo đồng bào để
đi vào vùng biên giới.
Có những đêm ngủ trong căn hầm nửa
chìm nửa nổi, mái tranh phủ giấy dầu.
Có những bữa cơm chỉ có cơm với thịt
hộp.
Và cũng có những bữa cơm có thịt dê,
có rượu, có câu chuyện về tương lai.
Những điều ấy tưởng như rất nhỏ.
Nhưng chính từ những điều nhỏ bé ấy
mà ký ức về một thời được giữ lại.
Đó là chuyện của rất nhiều người.
Là những người cán bộ huyện năm ấy
ngày ngày đi kiểm tra đường sá.
Là những người công nhân, người lao
động mở từng mét đường giữa núi đá.
Là đồng bào các dân tộc góp sức, dẫn
đường, giúp đỡ bộ đội và cán bộ.
Là những chiến sĩ biên phòng bám
đồn, bám bản, sống trong những căn nhà đơn sơ giữa vùng biên giới.
Là những người ở tỉnh, ở Bộ, ở Trung
ương đã xem xét và tạo điều kiện để dự án được thực hiện.
Những con đường vùng cao bao giờ
cũng được làm bằng rất nhiều mồ hôi.
Có những người mở đường mà không bao
giờ được nhắc tên.
Có những người chỉ để lại một kỷ
niệm trong trí nhớ của người khác.
Nhưng tất cả đều góp phần làm cho
con đường thành hình.
Tôi nhớ nhất những ngày đầu.
Đường còn là những lối mòn.
Xe không đi được.
Có lúc phải bỏ xe giữa đường rồi đi
bộ.
Có lúc phải cải trang thành người
địa phương để đi vào vùng biên giới.
Có những đêm ngủ trong căn hầm nửa
chìm nửa nổi, mái tranh phủ giấy dầu.
Có những bữa cơm chỉ có cơm với thịt
hộp.
Và cũng có những bữa cơm có thịt dê,
có rượu, có câu chuyện về tương lai.
Những điều ấy tưởng như rất nhỏ.
Nhưng chính từ những điều nhỏ bé ấy
mà ký ức về một thời lại được giữ lại.
10.Bát rượu nghĩa
tình.
Nhiều năm đã trôi qua.
Tôi đã đi qua rất nhiều con đường.
Đã gặp rất nhiều người.
Đã tham gia nhiều công việc.
Nhưng mỗi khi nhớ đến Bản Máy, tôi
lại nhớ đến đêm năm 1989.
Nhớ căn nhà thấp tựa vào núi.
Nhớ chiếc bàn dài.
Nhớ những người mặc quần áo đồng
bào.
Nhớ người đàn ông nhỏ nhắn ngồi cạnh
mình.
Nhớ bàn tay rất ấm khi bắt tay.
Nhớ câu hỏi:
“Sau này nếu đất nước hòa bình thì
chú có đề đạt gì không?”
Nhớ câu trả lời của mình về một con
đường.
Và nhớ nhất: “Nhất trí nhé.”
Ngày ấy tôi không biết người ngồi
cạnh mình là ai.
Tôi cũng không biết rằng sáu năm sau
mình sẽ gặp lại ông giữa Hà Nội để nói về chính con đường ấy.
Tôi càng không nghĩ rằng cái bắt tay
và bát rượu trong một đêm lạnh ở Bản Máy lại trở thành một phần ký ức sâu đậm
đến như vậy.
Bây giờ nhìn lại, tôi hiểu rằng một
lời hứa chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta còn nhớ đến nó và tìm cách biến nó
thành hành động.
Nhưng một con đường cũng không thể
được xây dựng chỉ bằng lời hứa.
Nó phải được xây bằng chủ trương,
bằng quyết tâm, bằng tiền vốn, bằng mồ hôi, bằng sức lực của biết bao con
người.
Bát rượu năm ấy vì thế không phải là
câu chuyện về rượu.
Đó là câu chuyện về nghĩa tình.
Một bát rượu giữa những con người xa
lạ nhưng cùng nói về một mong ước chung.
Một con đường cho đồng bào.
Một con đường cho vùng biên giới.
Một con đường để những nơi xa xôi
của Tổ quốc gần hơn với cuộc sống bên ngoài.
LỜI KẾT
Có những con đường được đo bằng cây số.
Nhưng cũng có những con đường được đo bằng năm tháng, ký ức và nghĩa tình.
Con đường vào Bản Máy đối
với tôi là một con đường như thế.
Nó bắt đầu từ những lối mòn vùng cao, những chuyến đi bộ, những căn hầm đơn sơ và một bữa cơm trong đêm lạnh. Ở đó có một cái bắt tay ấm áp, một bát rượu nghĩa tình và một câu nói tôi nhớ suốt nhiều năm: “Nhất trí nhé.”
Sáu năm sau, câu nói ấy
lại được nhắc đến giữa Hà Nội, và từ một mong ước nhỏ bé của người cán bộ giao
thông năm nào, con đường dần trở thành hiện thực.
Nhìn lại, tôi hiểu rằng
một con đường không chỉ được làm nên bởi tiền vốn, máy móc hay sức người. Nó
còn được bắt đầu từ một ước mong chính đáng, từ sự đồng lòng và từ những con
người biết lắng nghe, biết giữ lời và cùng nhau biến điều mong muốn thành hiện
thực.
Con đường Bản Máy không chỉ nối những bản làng với huyện lỵ. Nó còn nối một lời mong ước năm xưa với hiện thực hôm nay .Và với tôi, đó cũng là một phần ký ức đẹp về một thời đã đi qua — nơi một bát rượu trở thành nghĩa tình, một lời nói trở thành động lực, và một ước mong trở thành con đường.
Đó là điều mà sau
bao nhiêu năm, tôi vẫn nhớ./,
(Ngô
Lê Lợi – Hồi kí- Yên Hòa -Hà Nội ngày 27/9/2026)