ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Hướng dẫn lễ cúng Vu Lan tại gia đình


Hai ban thờ : thờ Phật và  Thờ Thổ công + Gia tiên 


A/Ban thờ

1/Gia đình có 2 ban thờ Phât &  Ban thổ công + Gia tiên

-Lễ Ban Phật: Mâm cơm chay hoặc đồ cúng chay (hoa- đĩa Ngũ quả-xôi-chè-oản..)

-Lễ Ban thờ Thổ công+ gia tiên: trên ban thờ : Mâm cơm chay hoặc đồ cúng chay (hoa- đĩa ngũ quả-xôi-chè-oản..). trường hợp có mâm lễ mặn thì bầy  bên dưới Ban thờ. Mã nên giảm tiện không mua mã mà thay vào khoảng 5 đến 10 tập tiền âm (để Thổ công và Gia tiên mua quần áo) + khoảng vài chục nghìn tiền lẻ (dương). Việc này là thực hiện của Phật giáo tiến tới bỏ hóa tiền và mã tại các chùa?

2/Gia đình có một Ban  thờ Thổ công+ gia tiên: trên ban thờ : Mâm cơm chay hoặc đồ cúng chay (hoa- đĩa ngũ quả-xôi-chè-oản..). trường hợp có mâm lễ mặn thì bầy  bên dưới Ban thờ. Mã nên giảm tiện không mua mã mà thay vào khoảng 5 đến 10 tập tiền âm (để Thổ công và Gia tiên mua quần áo) + khoảng vài chục nghìn tiền lẻ (dương). Việc này là thực hiện của Phật giáo tiến tới bỏ hóa tiền và mã tại các chùa?

B/ Phần lễ nghi:

1/Đối với gia đình có thờ Phật (Thờ Tam Thánh Phật, Thờ Phật Thích Ca Mô Ni, Thờ Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát; Thờ Phật Dược Sư Lưu Ly…

Nghi lễ: mặc áo lam ; thắp hương 2 ban thờ ; sau đó Đến trước Ban thờ Thổ công + Gia tiên kính mời Các quan các ngài và Gia tiên họ…. cùng với chúng con “ Đảnh lễ Phật và Nghe Kinh Vu Lan Báo hiếu”

 (ĐNH LỄ TAM BẢO)
Tất thảy cung kính.
Dốc lòng kính lạy Phật - Pháp - Tăng thường ở khắp mười phương
. (3 lễ)


(DÂNG HƯƠNG)

Chúng con kính dâng lễ phẩm
Nguyện hương thơm bay tận mười phương
Cúi xin Phật rủ lòng thương
Chứng cho con có tâm hương cúng dàng
Hương cầu đạo mở mang khắp cõi
Để chúng sinh được khởi Phật tâm. (1 vái)


Cúng dàng rồi - Tất thảy cung kính.
Dốc lòng kính lạy Phật - Pháp - Tăng thường ở khắp mười phương. (1 lễ)


(CA NGỢI ĐỨC PHẬT)

Ơn Đức Phật sáng soi đuốc tuệ
Đạo cao siêu không thể nghĩ bàn
Hoá thân biến khắp không gian
Giáo lý mầu nhiệm khai quang sáng ngời
Đủ phương tiện độ đời cứu kính
Khắp loài phàm, Trời, Thánh quy y
Tấm lòng hỷ xả từ bi
Cứu khổ cứu nạn thật vì chúng sinh.
Tám mươi vẻ thân hình tột bậc
Đủ ba hai tướng tốt khác thường
Uy nghi cảm hoá mười phương
Khiến cho các cõi được nương tựa nhờ.
Con bao kiếp mê mờ chính Pháp
Nhờ thiện duyên nay được làm người
Lại may được gặp Phật rồi
Dốc lòng kính lạy xin Ngài xét soi.
Đường Thánh Đạo con noi gương sáng
Lấy tâm từ xả oán trừ mê
Nguyện cho chúng sinh cùng về
Cực Lạc thế giới là quê muôn đời.


Án Phạ Nhật La Vật. (3 lần) 1 vái


1.ĐẢNH LỄ:  (BA LẠY)
1- Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 lễ)
2- Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn, Linh Sơn Hội Thượng Phật, Bồ Tát.(1 lễ) 0
3- Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại Từ Đại Bi tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lễ)

 2. Chú Đại Bi ( 3 lượt 81 biến)

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni


1. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đá Ra Dạ Da
2. Nam Mô A Rị Da
3. Bà Lô kiết Đế Thước Bát Ra Da
4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da
5. Ma Ha Tát Đỏa Bà Da
6.
Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da
7. Án
8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ
9. Số Đát Na Đát Tỏa
10. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa, Y Mông A Rị Da
11. Bà Lô kiết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà
12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì
13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế
14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng
15. A Thệ Dựng
16. Tát Bà Tát Đa,Na Ma Bà Già
17. Ma Phạt Đạt Đậu
18. Đát Điệt Tha
19. Án A Bà Lô Hê
20. Lô Ca Đế
21. Ca Ra Đế
22. Di Hê Rị
23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa
24. Tát Bà Tát Bà
25. Ma Ra Ma Ra
26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng
27. Cu Lô Cu Lô Yết Mông
28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế
29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế
30. Đà Ra Đà Ra
31. Địa Rị Ni
32. Thất Phật Ra Da
33. Dá Ra Dá Ra
34. Mạ Mạ Phạt Ma Ra
35. Mục Đế Lệ
36. Y Hê di Hê
37. Thất Na Thất Na
38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi
39. Phạt Sa Phạt Sâm
40. Phật Ra Xá Da
41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra
42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị
43. Ta Ra Ta Ra
44. Tất Rị Tất Rị
45. Tô Rô Tô Rô
46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ
47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ
48. Di Đế Rị Dạ
49. Na Ra Cẩn Trì
50. Địa Rị Sắt Ni Na
51. Ba Dạ Ma Na
52. Ta Bà Ha
53. Tất Đà Dạ
54. Ta Bà Ha
55. Ma Ha Tất Đà Dạ
56. Ta Bà Ha
57. Tất Đà Du Nghệ
58. Thất Bàn Ra Dạ
59. Ta Bà Ha
60. Na Ra Cẩn Trì
61. Ta Bà Ha
62. Ma Ra Na Ra
63. Ta Bà Ha
64. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da
65. Ta Bà Ha
66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ
67. Ta Bà Ha
68. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ
69. Ta Bà Ha
70. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ
71. Ta Bà Ha
72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Đà Ra Dạ
73. Ta Bà Ha
74. Ma Bà Lợi Thắng Kiết Ra Dạ
75. Ta Bà Ha
76. Nam Mô Hắc Ra Đát na, Đá Ra Dạ Da
77. Nam Mô A Rị Da
78. Bà Lô Kiết Đế
79. Thước Bàn Ra Dạ
80. Ta Bà Ha
81. Án Tất Điện Đô
82. Mạn Đa Ra
83. Bạt Đà Dạ
84. Ta Bà Ha
(Lặp lại 3 lần từ câu Chú 81 đến 84)


3. KINH VU LAN BÁO HIẾU :

KHAI KINH

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Pháp Phật cao siêu rất nhiệm màu,
Trăm ngàn muôn kiếp dễ hay đâu,
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng,
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm màu.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát (3 lần)

PHẬT NÓI KINH VU LAN BỒN TA TỪNG NGHE LỜI TẠC NHƯ VẦY:

Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,
Xá vệ thành Kỳ Thụ viên trung
Mục Liên mới đặng lục thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân,
Công dưỡng dục thân ân dốc trả
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền
Làm con hiếu hạnh vi tiên,
Bèn dùng tuệ nhãn dưới trên kiếm tầm.
Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỉ
Không uống ăn tiều tụy hình hài,
Mục Liên thấy vậy bi ai,
Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm
Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,
Đặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu,
Thấy con, mẹ rất lo âu.
Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.
Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt,
Sợ chúng ma cướp giựt của bà.
Cơm đưa chưa đến miệng đà,
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu,
Thấy như vậy âu sầu thê thảm,
Mục Kiền Liên bị cảm xót thương,
Mau mau về đến giảng đường,
Bạch cùng Sư phụ tầm phương giải nạn.
Phật mới bảo rõ ràng căn cội,
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu.
Dầu ông thần lực nhiệm màu,
Một mình không thể ai cầu đặng đâu
Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang dồn thấu đến Cửu Thiền
Cùng là các bậc Thần kỳ.
Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương
Cộng ba cõi sáu phương tụ tập.
Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi,
Muốn cho cứu đặng mạng người.
Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng
Pháp cứu tế ta toan giảng nói,
Cho mọi người thoát khỏi ách nàn
Bèn kêu Mục Thị đến gần,
Truyền chi diệu pháp ân cần thiết thi,
Rằm tháng bảy là ngày Tự tứ.
Mười phương Tăng đều dự lễ nầy
Phải toan sắm sửa chớ chầy,
Thức ăn trăm món, trái cây năm màu
Lại phải sắm gường, nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đưốc, nhang dầu
Món ăn tinh, sạch báu mầu
Đựng trong bình bát Vọng cầu kính dâng
Chư Đại đức mười phương thọ thực
Trong bảy đời sẽ đặng siêu thăng
Lại thêm cha mẹ hiện tiền
Đặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn
Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ
Dù ở đâu cũng tụ hội về.
Như người Thiền định sơn khê
Tránh điều phiền não chăm về thiền na
Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả
Công tu hành nguyện thỏa vô sanh
Hoặc người thọ hạ kinh hành
Chẳng ham quyền quí ẩn danh lâm tòng
Hoặc người đặng lục thông tấn phát
Và những hàng Duyên giác,Thanh Văn
Hoặc chư Bồ tát mười phương
Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh
Đều trì giới rất thanh, rất tịnh,
Đạo đức dày chánh định chân tâm
Tất cả các bực Thánh, phàm
Đồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa
Người nào có sắm ra vật thực
Đặng cúng dường Tự tứ Tăng thời
Hiện tiền phụ mẫu của người
Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn
Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên
Như còn cha mẹ hiện tiền
Nhờ đó cũng đặng bách niên thọ trường
Như cha mẹ bảy đời quá vãng
Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung
Người thời tuấn tú hình dung
Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân
Phật dạy bảo mười phưong tăng chúng
Phải tuân theo thể thức sau nầy:
Trước khi thọ thực đàn chay
Phải cầu chú nguyện cho người tín gia
Cầu thất thế mẹ cha thí chủ
Định tâm thần quán đủ đừng quên
Cho xong định ý hành thiền
Mời dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng
Khi thọ dụng, nên an vật thực
Trước Phật đài hoặc tự tháp trung
Chư tăng chú nguyện viên dung
Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa
Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt
Mục Liên cùng Bồ tát chư Tăng
Đồng nhau tỏ dạ vui mừng
Mục Liên cũng hết khóc thương rầu buồn
Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy
Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan
Mục Liên bạch với Phật rằng:
Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn
Lại cùng nhờ oai thần Tam Bảo
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra
Như sau đệ tử xuất gia
Vu Lan bồn pháp dùng mà độ sanh
Độ cha mẹ còn đương tại thế
Hoặc bảy đời có thể đặng không?
Phật rằng: lời hỏi rất thông
Ta vừa muốn nói con vùng hỏi theo.
Thiện nam tử, Tỳ kheo nam nữ
Cùng Quốc vương,Thái tử Đại thần
Tam công, tể tướng, bá quan
Cùng hàng lê thứ vạn dân cỗi trần
Như chí muốn đền ơn cha mẹ
Hiện tại cùng thất thế tình thâm
Đến Rằm tháng bảy mỗi năm
Sau khi kiết hạ chư Tăng tựu về
Chính ngày ấy Phật đà hoan kỷ
Phải sắm sanh bá vị cơm canh
Đựng trong bình bát tinh anh
Chờ giờ Tự tứ chúng tăng cúng dường
Đặng cầu nguyện song đường trường thọ
Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi
Cùng cầu thất thế đồng thì
Lìa nơi ngạ quỉ sanh về nhơn thiên
Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp
Lại xa lìa nạn khổ cực thân
Môn sanh Phật tử ân cần
Hạnh tu Hiếu thuận phải cần phải chuyên
Thường cầu nguyện thung huyên an hảo
Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh
Ngày rằm tháng Bảy mỗi năm
Vì lòng hiếu thảo ơn thâm phải đền
Lễ cứu tế chí thành sắp đặt
Ngỏ cúng dường chư Phật chư Tăng
Ấy là báo đáp thù ân
Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu
Đệ tử Phật lo âu gìn giữ
Mới phải là Thích tử Thiền môn
Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn
Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan
Mục Liên với bốn ban Phật tử
Nguyện một lòng tín sự phụng hành.
Trước là trả nghĩa sanh thành
Sau là cứu vớt chúng sanh muôn loài
Nam mô đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát(3 lần)



4. TÁN PHẬT

A Di Đà Phật thân sắc vàng

Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm

Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào

Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc

Trong hào quang hóa vô số Phật

Vô số Bồ Tát hiện ở trong

Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh

Chín phẩm sen vàng lên giải thoát

Quy mạng lễ A Di Đà Phật

Ở phương Tây thế giới an lành

Con nay xin phát nguyện vãng sanh

Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ.

Nam-mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.



5. NIỆM PHẬT

 A Di Đà Phật ( Tùy niệm càng nhiều càng tốt : 5’-10’...  ;

Tiếp  niệm 5 Danh hiệu Phật : Dưới



Nam-mô A Di Đà Phật (3 lần)

Nam-mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ( 3 lần )

Nam-mô Đại Thế Chí Bồ Tát ( 3 lần )

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát ( 3 lần )

Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ( 3 lần )



Sau đó Đọc bài “Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ ”



Nam Mô A Di Đa Bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ, Đa Điệc Dạ Tha, A Di Rị Đô Bà Tì, A Di Rị Đa, Tất Đam Bà Tì, A Di Rị Đa, Tì Ca Lan Đế, A Di Rị Đa Tì Ca Lan Đa, Dà Di Nị, Dà Dà Na, Chỉ Đa Ca Lệ Ta Bà Ha.

(ít nhật 1 lần ...đến 108 Lần bài này)



6. SÁM HỐI

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp

Đều do vô thủy tham sân si

Bởi thân khẩu ý phát sinh ra

Hết thảy con nay nguyện sám hối . ( 3 lần )



 7. PHÁT NGUYỆN

Nguyện sanh Tịnh Độ ở Tây Phương

Chín phẩm hoa sen là Cha Mẹ

Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh

Bố Tát bất thối là bạn lữ.



8. TAM TỰ QUY Y

Tự quy y Phật. Nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả, phát tâm vô thượng. (1 lạy)

Tự quy y Pháp. Nguyện cho chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lạy)

Tự quy y Tăng. Nguyện cho chúng sanh dắt dìu đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)



9. HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức này

Trang nghiêm Phật Tịnh Độ

Trên đền bốn ân nặng

Dưới cứu khổ ba đường

Nếu có ai thấy nghe

Đều phát lòng bồ đề

Hết một báo thân này

Đồng sanh cõi Cực Lạc.



HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC MỖI NGÀY

Đệ tử con nguyện đem Công tu hành và những thiện nghiệp, phước đức con làm được trong ngày hôm nay :

1/Công đức niệm Phật hôm  nay con xin Hồi hướng cho Bác và  hai mẹ hiện tiền của con  được tăng sức khỏe vui vẻ tuổi già, mãn báo thân được sinh về Tây phương Cực Lạc . Hồi hướng cho cửu huyền thất tổ Họ NGÔ họ HOÀNG ;  cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp sinh ra chúng con ngày hôm nay tại nghĩa trang (Gia đình-dòng họ 2 bên nội ngoại) Vườn Tè (Xóm 2 Thôn Thanh Nộn xã Thanh Sơn huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam) ; và nghĩa trang thôn Thanh Lương I  (xã Phù Lưu huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh) ; nghĩa trang Con Khoa (phường Ỷ La thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang) và nghĩa trang Thôn Én Bơ xã Khánh Yên Hạ huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai ;

 2/ Hồi hướng cho tất cả vợ con, anh chị em, thân bằng quyến  thuộc còn đang hiện tiền, nghiệp chướng được tiêu trừ ; mọi người đều phát khởi Tín-Hạnh-Nguyện tinh tấn chuyên niệm Hồng danh A Di Đà Phật cầu sanh Tinh độ, và đều được thành tựu.

và Khắp nội ngoại Tiên linh :

-Nguyện Chư Linh đẳng giải oan khiên

-Tội chướng tiêu trừ tăng phúc duyên

-Bát nạt Tam đồ mau giải thoát

-Cùng sinh Tịnh độ được an nhiên

NAM MÔ SINH TỊNH ĐỘ BỒ TÁT MA HA TÁT  (3 lần)

3/Lại vì Phật tử con Hồi hướng cho quan Thần linh đất này và Ông Bà hậu tiền chủ và Tất cả những người khuất mặt quanh đây và những oan gia trái chủ đều được đồng chiêm  lợi lạc.

-Nguyện từ vô thủy kiếp đến nay, tất cả kẻ oán người thân. Tổ bẩy đời, Tổ lâu đời, Rồi đời nay hoặc nhiều đời, các vị Thày và Chư Tăng, cha mẹ rộng đến 10 phương cõi pháp hết thảy chúng sinh , các bậc Thiện Tri thức; Kẻ ác tám nạn ba đường khổ, cho đến cỏ cây ,côn trùng, loài chứng, thai sinh, noãn sinh, thấp sinh,hóa sinh hoặc vô tình giết tất cả vạn loài.

-Nguyện giải hết thảy mọi oan khiên, tiêu hết thảy mọi tội nghiệp, cùng chứng đạo bồ đề, cùng sinh về Cực Lạc.

*Nguyện:

“Nguyện Đem công đức này

Hồi hướng về khắp cả

Đệ tử và Chúng sinh

Đều trọn thành Phật Đạo”



*Chúng sinh vô biên Thề nguyện độ

Phiền não vô tận Thề nguyện đoạn

Pháp môn vô thượng Thề nguyện học

Phật đạo vô thượng Thề nguyện thành.

(Nam Mô A Di Đà Phật 3 lần)



1/Đối với gia đình có một Ban   thờ Thổ công+ gia tiên

Ban Thờ Thổ công và Gia tiên


Nghi lễ: Mặc áo Lam; thắp hương vào bát hương trên Ban thờ.

Cúng Thổ công và Gia tiên: hôm nay là ngày……..tháng…..năm ……Tín chủ chúng con…………….. Tại địa chỉ gia đình  thành tâm  tổ chức lễ Vu Lan Báo Hiếu, để bày tỏ tấm lòng hiếu kính của những người con của gia đình và người con của Phật. Chúng con thành tâm cung thỉnh:

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

 - Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

-Con Kính lạy: Thổ Thần, Thần Linh, Thổ Địa, Táo Phủ Thần Quân, Ngũ phương Địa mạch,Tiếp dẫn Tài Thần, Tiếp dẫn Lộc Thần, Tiền Hậu địa chủ,  các tiểu Thần trong khu vực.



-Con Kính lạy: Cửu huyền Thất Tổ, Thất Tổ Cửu Huyền Chi họ Ngô Văn – Chi họ……... Cao Cao tằng Tổ khảo, Cao Cao tằng Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Hiền khảo, Hiền tỷ, Bá, Thúc, Đệ, Huynh, Cô, Dì, Tỷ, Muội.

Cộng đồng nội - ngoại Gia tiên Chi dòng họ Ngô Văn-Chi họ…..

-Con Kính lạy: Bà cô Tổ, Bà Cô, Ông Mãnh Chi  họ Ngô Văn .

Hôm nay là ngày mùng……..       tháng 7 năm Mậu Tuất  2018 , chúng con sắm sửa  hương đăng,đèn nến;  sắm sanh lễ vật, hoa –Quả-Bánh kẹo , trà quả cùng đỗ lễ chay  dâng lên trước án.

Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại và chư vị Hương linh: Họ Ngô-Họ ….
Tín chủ chúng con là Trưởng chi Họ : ……………………..  cùng toàn thể con cháu dâu rể của chi Họ Ngô văn.

Ngụ tại: …………………………………………………………..  

; nhân gặp tiết Vu Lan , chúng con nhớ đến Tổ tiên ông bà cha mẹ nhiều đời, nhiều kiếp  đã sinh thành ra chúng con gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức.
Chúng con cảm nghĩ ơn đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền nên tín chủ con sửa sang lễ vật, hương hoa, trà quả, kim ngân, vàng bạc, thắp nén tâm hương,thành tâm kính lên các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá Thúc, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ Ngô-Họ Trần cúi xin các vị thương xót cháu con, linh thiêng hiện về, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khỏe bình an , lộc tài vượng tiến, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long, hướng về chính giáo.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật!(3 lần)

sau đó  gia chủ đến trước Ban thờ Thổ công + Gia tiên kính mời "Các quan các ngài và Gia tiên họ"…. cùng với chúng con “ Đảnh lễ Phật và Nghe Kinh Vu Lan Báo hiếu”


 (ĐNH LỄ TAM BẢO)
Tất thảy cung kính.
Dốc lòng kính lạy Phật - Pháp - Tăng thường ở khắp mười phương
. (3 lễ)


(DÂNG HƯƠNG)

Chúng con kính dâng lễ phẩm
Nguyện hương thơm bay tận mười phương
Cúi xin Phật rủ lòng thương
Chứng cho con có tâm hương cúng dàng
Hương cầu đạo mở mang khắp cõi
Để chúng sinh được khởi Phật tâm. (1 vái)


Cúng dàng rồi - Tất thảy cung kính.
Dốc lòng kính lạy Phật - Pháp - Tăng thường ở khắp mười phương. (1 lễ)


(CA NGỢI ĐỨC PHẬT)

Ơn Đức Phật sáng soi đuốc tuệ
Đạo cao siêu không thể nghĩ bàn
Hoá thân biến khắp không gian
Giáo lý mầu nhiệm khai quang sáng ngời
Đủ phương tiện độ đời cứu kính
Khắp loài phàm, Trời, Thánh quy y
Tấm lòng hỷ xả từ bi
Cứu khổ cứu nạn thật vì chúng sinh.
Tám mươi vẻ thân hình tột bậc
Đủ ba hai tướng tốt khác thường
Uy nghi cảm hoá mười phương
Khiến cho các cõi được nương tựa nhờ.
Con bao kiếp mê mờ chính Pháp
Nhờ thiện duyên nay được làm người
Lại may được gặp Phật rồi
Dốc lòng kính lạy xin Ngài xét soi.
Đường Thánh Đạo con noi gương sáng
Lấy tâm từ xả oán trừ mê
Nguyện cho chúng sinh cùng về
Cực Lạc thế giới là quê muôn đời.


Án Phạ Nhật La Vật. (3 lần) 1 vái


1.ĐẢNH LỄ:  (BA LẠY)
1- Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 lễ) 0
2- Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn, Linh Sơn Hội Thượng Phật, Bồ Tát.(1 lễ) 0
3- Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại Từ Đại Bi tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lễ)


 2. Chú Đại Bi ( 3 lượt 81 biến)

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni


1. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đá Ra Dạ Da
2. Nam Mô A Rị Da
3. Bà Lô kiết Đế Thước Bát Ra Da
4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da
5. Ma Ha Tát Đỏa Bà Da
6.
Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da
7. Án
8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ
9. Số Đát Na Đát Tỏa
10. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa, Y Mông A Rị Da
11. Bà Lô kiết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà
12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì
13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế
14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng
15. A Thệ Dựng
16. Tát Bà Tát Đa,Na Ma Bà Già
17. Ma Phạt Đạt Đậu
18. Đát Điệt Tha
19. Án A Bà Lô Hê
20. Lô Ca Đế
21. Ca Ra Đế
22. Di Hê Rị
23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa
24. Tát Bà Tát Bà
25. Ma Ra Ma Ra
26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng
27. Cu Lô Cu Lô Yết Mông
28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế
29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế
30. Đà Ra Đà Ra
31. Địa Rị Ni
32. Thất Phật Ra Da
33. Dá Ra Dá Ra
34. Mạ Mạ Phạt Ma Ra
35. Mục Đế Lệ
36. Y Hê di Hê
37. Thất Na Thất Na
38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi
39. Phạt Sa Phạt Sâm
40. Phật Ra Xá Da
41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra
42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị
43. Ta Ra Ta Ra
44. Tất Rị Tất Rị
45. Tô Rô Tô Rô
46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ
47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ
48. Di Đế Rị Dạ
49. Na Ra Cẩn Trì
50. Địa Rị Sắt Ni Na
51. Ba Dạ Ma Na
52. Ta Bà Ha
53. Tất Đà Dạ
54. Ta Bà Ha
55. Ma Ha Tất Đà Dạ
56. Ta Bà Ha
57. Tất Đà Du Nghệ
58. Thất Bàn Ra Dạ
59. Ta Bà Ha
60. Na Ra Cẩn Trì
61. Ta Bà Ha
62. Ma Ra Na Ra
63. Ta Bà Ha
64. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da
65. Ta Bà Ha
66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ
67. Ta Bà Ha
68. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ
69. Ta Bà Ha
70. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ
71. Ta Bà Ha
72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Đà Ra Dạ
73. Ta Bà Ha
74. Ma Bà Lợi Thắng Kiết Ra Dạ
75. Ta Bà Ha
76. Nam Mô Hắc Ra Đát na, Đá Ra Dạ Da
77. Nam Mô A Rị Da
78. Bà Lô Kiết Đế
79. Thước Bàn Ra Dạ
80. Ta Bà Ha
81. Án Tất Điện Đô
82. Mạn Đa Ra
83. Bạt Đà Dạ
84. Ta Bà Ha
(Lặp lại 3 lần từ câu Chú 81 đến 84)


3. KINH VU LAN BÁO HIẾU :

KHAI KINH

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Pháp Phật cao siêu rất nhiệm màu,
Trăm ngàn muôn kiếp dễ hay đâu,
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng,
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm màu.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát (3 lần)

PHẬT NÓI KINH VU LAN BỒN TA TỪNG NGHE LỜI TẠC NHƯ VẦY:

Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,
Xá vệ thành Kỳ Thụ viên trung
Mục Liên mới đặng lục thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân,
Công dưỡng dục thân ân dốc trả
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền
Làm con hiếu hạnh vi tiên,
Bèn dùng tuệ nhãn dưới trên kiếm tầm.
Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỉ
Không uống ăn tiều tụy hình hài,
Mục Liên thấy vậy bi ai,
Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm
Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,
Đặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu,
Thấy con, mẹ rất lo âu.
Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.
Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt,
Sợ chúng ma cướp giựt của bà.
Cơm đưa chưa đến miệng đà,
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu,
Thấy như vậy âu sầu thê thảm,
Mục Kiền Liên bị cảm xót thương,
Mau mau về đến giảng đường,
Bạch cùng Sư phụ tầm phương giải nạn.
Phật mới bảo rõ ràng căn cội,
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu.
Dầu ông thần lực nhiệm màu,
Một mình không thể ai cầu đặng đâu
Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang dồn thấu đến Cửu Thiền
Cùng là các bậc Thần kỳ.
Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương
Cộng ba cõi sáu phương tụ tập.
Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi,
Muốn cho cứu đặng mạng người.
Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng
Pháp cứu tế ta toan giảng nói,
Cho mọi người thoát khỏi ách nàn
Bèn kêu Mục Thị đến gần,
Truyền chi diệu pháp ân cần thiết thi,
Rằm tháng bảy là ngày Tự tứ.
Mười phương Tăng đều dự lễ nầy
Phải toan sắm sửa chớ chầy,
Thức ăn trăm món, trái cây năm màu
Lại phải sắm gường, nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đưốc, nhang dầu
Món ăn tinh, sạch báu mầu
Đựng trong bình bát Vọng cầu kính dâng
Chư Đại đức mười phương thọ thực
Trong bảy đời sẽ đặng siêu thăng
Lại thêm cha mẹ hiện tiền
Đặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn
Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ
Dù ở đâu cũng tụ hội về.
Như người Thiền định sơn khê
Tránh điều phiền não chăm về thiền na
Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả
Công tu hành nguyện thỏa vô sanh
Hoặc người thọ hạ kinh hành
Chẳng ham quyền quí ẩn danh lâm tòng
Hoặc người đặng lục thông tấn phát
Và những hàng Duyên giác,Thanh Văn
Hoặc chư Bồ tát mười phương
Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh
Đều trì giới rất thanh, rất tịnh,
Đạo đức dày chánh định chân tâm
Tất cả các bực Thánh, phàm
Đồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa
Người nào có sắm ra vật thực
Đặng cúng dường Tự tứ Tăng thời
Hiện tiền phụ mẫu của người
Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn
Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên
Như còn cha mẹ hiện tiền
Nhờ đó cũng đặng bách niên thọ trường
Như cha mẹ bảy đời quá vãng
Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung
Người thời tuấn tú hình dung
Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân
Phật dạy bảo mười phưong tăng chúng
Phải tuân theo thể thức sau nầy:
Trước khi thọ thực đàn chay
Phải cầu chú nguyện cho người tín gia
Cầu thất thế mẹ cha thí chủ
Định tâm thần quán đủ đừng quên
Cho xong định ý hành thiền
Mời dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng
Khi thọ dụng, nên an vật thực
Trước Phật đài hoặc tự tháp trung
Chư tăng chú nguyện viên dung
Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa
Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt
Mục Liên cùng Bồ tát chư Tăng
Đồng nhau tỏ dạ vui mừng
Mục Liên cũng hết khóc thương rầu buồn
Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy
Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan
Mục Liên bạch với Phật rằng:
Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn
Lại cùng nhờ oai thần Tam Bảo
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra
Như sau đệ tử xuất gia
Vu Lan bồn pháp dùng mà độ sanh
Độ cha mẹ còn đương tại thế
Hoặc bảy đời có thể đặng không?
Phật rằng: lời hỏi rất thông
Ta vừa muốn nói con vùng hỏi theo.
Thiện nam tử, Tỳ kheo nam nữ
Cùng Quốc vương,Thái tử Đại thần
Tam công, tể tướng, bá quan
Cùng hàng lê thứ vạn dân cỗi trần
Như chí muốn đền ơn cha mẹ
Hiện tại cùng thất thế tình thâm
Đến Rằm tháng bảy mỗi năm
Sau khi kiết hạ chư Tăng tựu về
Chính ngày ấy Phật đà hoan kỷ
Phải sắm sanh bá vị cơm canh
Đựng trong bình bát tinh anh
Chờ giờ Tự tứ chúng tăng cúng dường
Đặng cầu nguyện song đường trường thọ
Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi
Cùng cầu thất thế đồng thì
Lìa nơi ngạ quỉ sanh về nhơn thiên
Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp
Lại xa lìa nạn khổ cực thân
Môn sanh Phật tử ân cần
Hạnh tu Hiếu thuận phải cần phải chuyên
Thường cầu nguyện thung huyên an hảo
Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh
Ngày rằm tháng Bảy mỗi năm
Vì lòng hiếu thảo ơn thâm phải đền
Lễ cứu tế chí thành sắp đặt
Ngỏ cúng dường chư Phật chư Tăng
Ấy là báo đáp thù ân
Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu
Đệ tử Phật lo âu gìn giữ
Mới phải là Thích tử Thiền môn
Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn
Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan
Mục Liên với bốn ban Phật tử
Nguyện một lòng tín sự phụng hành.
Trước là trả nghĩa sanh thành
Sau là cứu vớt chúng sanh muôn loài
Nam mô đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát(3 lần)



4. TÁN PHẬT

A Di Đà Phật thân sắc vàng

Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm

Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào

Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc

Trong hào quang hóa vô số Phật

Vô số Bồ Tát hiện ở trong

Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh

Chín phẩm sen vàng lên giải thoát

Quy mạng lễ A Di Đà Phật

Ở phương Tây thế giới an lành

Con nay xin phát nguyện vãng sanh

Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ.

Nam-mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.



5. NIỆM PHẬT

 A Di Đà Phật ( Tùy niệm càng nhiều càng tốt : 5’-10’...  ;

Tiếp  niệm 5 Danh hiệu Phật : Dưới


Nam-mô A Di Đà Phật (3 lần)

Nam-mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ( 3 lần )

Nam-mô Đại Thế Chí Bồ Tát ( 3 lần )

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát ( 3 lần )

Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ( 3 lần )


Sau đó Đọc bài “Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ ”

Nam Mô A Di Đa Bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ, Đa Điệc Dạ Tha, A Di Rị Đô Bà Tì, A Di Rị Đa, Tất Đam Bà Tì, A Di Rị Đa, Tì Ca Lan Đế, A Di Rị Đa Tì Ca Lan Đa, Dà Di Nị, Dà Dà Na, Chỉ Đa Ca Lệ Ta Bà Ha.

(ít nhật 1 lần ...đến 108 Lần bài này)



6. SÁM HỐI

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp

Đều do vô thủy tham sân si

Bởi thân khẩu ý phát sinh ra

Hết thảy con nay nguyện sám hối . ( 3 lần )



 7. PHÁT NGUYỆN

Nguyện sanh Tịnh Độ ở Tây Phương

Chín phẩm hoa sen là Cha Mẹ

Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh

Bố Tát bất thối là bạn lữ.



8. TAM TỰ QUY Y

Tự quy y Phật. Nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả, phát tâm vô thượng. (1 lạy)

Tự quy y Pháp. Nguyện cho chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lạy)

Tự quy y Tăng. Nguyện cho chúng sanh dắt dìu đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)



9. HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức này

Trang nghiêm Phật Tịnh Độ

Trên đền bốn ân nặng

Dưới cứu khổ ba đường

Nếu có ai thấy nghe

Đều phát lòng bồ đề

Hết một báo thân này

Đồng sanh cõi Cực Lạc.



HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC MỖI NGÀY

Đệ tử con nguyện đem Công tu hành và những thiện nghiệp, phước đức con làm được trong ngày hôm nay :

1/Công đức niệm Phật hôm  nay con xin Hồi hướng cho Bác và hai mẹ hiện tiền của con  được tăng sức khỏe vui vẻ tuổi già, mãn báo thân được sinh về Tây phương Cực Lạc . Hồi hướng cho cửu huyền thất tổ Họ NGÔ ;  cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp sinh ra chúng con ngày hôm nay tại nghĩa trang (Gia đình-dòng họ 2 bên nội ngoại) Vườn Tè (Xóm 2 Thôn Thanh Nộn xã Thanh Sơn huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam) ; và nghĩa trang thôn Thanh Lương I  (xã Phù Lưu huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh) ; nghĩa trang Con Khoa (phường Ỷ La thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang) và nghĩa trang Thôn Én Bơ xã Khánh Yên Hạ huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai ;

 2/ Hồi hướng cho tất cả vợ con, anh chị em, thân bằng quyến  thuộc còn đang hiện tiền, nghiệp chướng được tiêu trừ ; mọi người đều phát khởi Tín-Hạnh-Nguyện tinh tấn chuyên niệm Hồng danh A Di Đà Phật cầu sanh Tinh độ, và đều được thành tựu.

và Khắp nội ngoại Tiên linh :

-Nguyện Chư Linh đẳng giải oan khiên

-Tội chướng tiêu trừ tăng phúc duyên

-Bát nạt Tam đồ mau giải thoát

-Cùng sinh Tịnh độ được an nhiên

NAM MÔ SINH TỊNH ĐỘ BỒ TÁT MA HA TÁT  (3 lần)



3/Lại vì Phật tử con Hồi hướng cho quan Thần linh đất này và Ông Bà hậu tiền chủ và Tất cả những người khuất mặt quanh đây và những oan gia trái chủ đều được đồng chiêm  lợi lạc.

-Nguyện từ vô thủy kiếp đến nay, tất cả kẻ oán người thân. Tổ bẩy đời, Tổ lâu đời, Rồi đời nay hoặc nhiều đời, các vị Thày và Chư Tăng, cha mẹ rộng đến 10 phương cõi pháp hết thảy chúng sinh , các bậc Thiện Tri thức; Kẻ ác tám nạn ba đường khổ, cho đến cỏ cây ,côn trùng, loài chứng, thai sinh, noãn sinh, thấp sinh,hóa sinh hoặc vô tình giết tất cả vạn loài.

-Nguyện giải hết thảy mọi oan khiên, tiêu hết thảy mọi tội nghiệp, cùng chứng đạo bồ đề, cùng sinh về Cực Lạc.



*Nguyện:

“Nguyện Đem công đức này
Hồi hướng về khắp cả
Đệ tử và Chúng sinh
Đều trọn thành Phật Đạo”

*Chúng sinh vô biên Thề nguyện độ
Phiền não vô tận Thề nguyện đoạn
Pháp môn vô thượng Thề nguyện học
Phật đạo vô thượng Thề nguyện thành.

Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)

* Về nghi lễ cúng Cô Hồn :

Trong ngày cúng Vu Lan cũng nên có một lễ cúng Cô Hồn (ngoài cửa nhà) Trong việc sắm lễ nhất thiết Phải có 1 bát cháo trắng  , sở dĩ không thể thiếu cháo loãng vì dân gian quan niệm rằng, những linh hồn bị đày đọa phải mang một thực quản nhỏ hẹp nên không thể nuốt được thức ăn thông thường. Muối và gạo sau khi cúng xong phải rải xuống đường mang ý nghĩa tiễn cô hồn đi. (Đối với nghi thức ở nhà thờ họ ; còn gia đình nhỏ có thể không cúng nghi lễ này…)

Một nghi thức cúng cô hồn từ xưa truyền lại bao gồm:


- Muối gạo (1 dĩa).

- Cháo trắng nấu loãng (12 chén nhỏ), hay là cơm vắt: 3 vắt.

- 12 cục đường thẻ.

- Bắp rang, khoai lang, ngô, sắn luộc...

- Mía (để nguyên vỏ và chặt từng khúc nhỏ độ 15 cm).

- Bánh, kẹo, tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

- Nước: 3 ly nhỏ, 3 cây nhang, 2 ngọn nến nhỏ.



(Theo các nhà nghiên cứu thì Vu Lan chỉ nên cúng trong 3 ngày 14-15-16 của tháng 7 âm lịch ; Đúng ngày là 15  còn cúng trước và sau không có tác dung; nhưng Lễ này là tri ân công đức cha mẹ ông bà nên các gia đình không có điều kiện cúng đúng ngày cũng có thể bắt đầu cúng trong khoảng từ mùng 2 tháng 7 đến hết ngày 16 . Phần lễ này  khoảng 40- 45 phút)
Ngô Lê Lợi (mùa Vu lan -8-2018)









:






Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018

Những người đã Tu Phật từ kiếp trước?


Những người này thì có  phúc dày nhờ tích đức, tu luyện nhiều kiếp; C
ó những dấu hiệu sau, bạn chắc chắn tích đức từ tiền kiếp và được phúc báo.

1. Lúc khó khăn luôn có lối thoát
Một người sẽ gặp không ít khó khăn trở ngại trong cuộc sống, và nếu tìm được lối thoát nhanh chóng như xuất hiện tình huống thuật lợi bất ngờ hoặc có người tự dưng hỗ trợ, thì người đó chắc chắn có phúc nhờ tích đức từ tiền kiếp.

2. Đem lại điều may mắn cho người khác
Nếu nhiều người được hưởng may từ bạn, chứng tỏ bạn là người rất có phúc. Ví dụ như khi đi chợ, một hàng quán đang ế, bạn vừa sà vào có ý định mua gì đó thì rất nhiều khách khác ùa tới, như vậy là bạn đã mang chút phúc của mình cho người chủ đó hưởng. Ai đó đang kém may giao du với bạn và đổi vận, người đó được hưởng phúc từ bạn lây sang.

3. Luôn tai qua nạn khỏi
Nhiều lúc nhẽ ra bạn sẽ bị một hạn nặng nào đó nhưng không hiểu vì sao những người khác bị còn bạn thì không. Ví dụ như trong một vụ tai nạn tập thể nhiều người bị thương hoặc mất mạng, nhưng bạn không hề hấn gì dù đi trên cùng chuyến xe. Hay có dịch bệnh gần như ai cũng mắc bạn lại không làm sao. Bạn đang hưởng phúc nên được bảo hộ.

4. Có nhiều bạn bè quý mến
Người có phúc cũng là người có nhiều bạn bè tốt với họ. Không phải ai cũng có được diễm phúc đó. Khi bạn gặp khó khăn sẽ không ít người sẵn sàng ra tay tương trợ bạn, đó là bởi phúc của bạn đem lại chứ không phải ngẫu nhiên.

5. Làm gì cũng dễ thành công
Bạn kinh doanh, làm việc công sở hay làm bất cứ điều gì, đều tốt hơn những người khác. Ví dụ ở cùng dãy phố kinh doanh 1 mặt hàng, bạn luôn đắt khách hơn cả. Trong khi cả dãy phố kinh doanh đang ế ẩm, bạn vẫn bán hàng đều đều. Đơn giản là vì họ không có phúc tích từ tiền kiếp như bạn.

6. Bạn có được người vợ hay chồng lý tưởng
Một người có phúc nhờ tích đức sẽ là người gặp được ý trung nhân hết lòng vì họ. Nếu không có phúc, chắc chắn cô ấy hay anh ấy sẽ không hết lòng yêu thương và chung thủy với bạn như vậy. Hãy cảm ơn vì mình đã tích đức từ tiền kiếp để kiếp này được may mắn hơn rất rất nhiều người.

7. Con cái ngoan ngoãn, giỏi giang
Một người có phúc chắc chắn sẽ có được những đứa con ngoan và giỏi giang, có hiếu với cha mẹ. Không phải ai cũng có được cái phúc này, bạn hãy trân trọng.

8. Có ngoại hình cũng ưa nhìn?
Người có phúc thường được ban cho ngoại hình đẹp đẽ và cân đối. Không phải ai cũng may mắn sinh ra với khuôn mặt khả ái và thân hình quyến rũ. Hãy cám ơn tiền kiếp của bạn.

9. Ít khi ốm đau
Người có phúc chắc chắn sẽ thọ dai và sức khỏe tốt hơn bình thường. Những bệnh vặt vãnh như ho hắng, cảm cúm hay ốm sốt không bao giờ chạm tới bạn được, đơn giản vì phúc dày đức cao đã giúp bạn có được điều này.

10. Là người luôn tin vào nhân quả?
Đây là điểm quan trọng đối với người có phúc báo. Người tin vào nhân quả sẽ sống lương thiện và hành xử đúng với đạo Trời. Họ làm như thế càng tích thêm đức cho bản thân mà được phúc dày lộc lớn.
Nếu có những dấu hiệu này, bạn chắc chắn là người có phúc, con cái, cha mẹ hay bạn bè của bạn nhờ đó sẽ được hưởng may mắn. Nhưng để phúc đó được bền, bạn càng phải sống tốt hơn, sống lương thiện, chân thật và khoan dung. Hãy tin vào nhân quả, bạn sẽ không bao giờ thiệt thòi.
(Theo khoevadep)

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

Lá số giống nhau nhưng số phận khác nhau?



Ta lại tự hỏi: cơ thể con người là thống nhất, lục phủ ngũ tạng ở trong mình là tự người mẹ sinh ra, tất cả cùng giờ sinh thế mà chỉ có gan mọc khối u còn những tạng phủ khác thì không bị. Vậy giữa chúng quả thực có sự khác nhau rất lớn. Trong khoa tử vi chúng ta thường nghe những thắc mắc, cụ thể là: “Trong cùng một giờ, một ngày, một tháng, một năm có hàng vạn vạn người sinh ra, không lẽ cuộc đời họ cũng giống nhau ư”?

1. Luận về mệnh vận con người
Có người nói: “Tôi cực lực phản đối thuyết con người có mệnh vận” và người đó nêu ra một số lý do để chứng minh quan điểm của mình là đúng. Ví dụ, nếu có người nói con người có số mệnh, thế thì những người sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ, cùng phút, cùng giây vì sao chỉ có một người làm vua. Người này lại đặt câu hỏi: “Trong một đất nước nói chung có rất nhiều người giờ sinh như nhau, mệnh vận của họ nên giống nhau mới đúng, tại sao lại không giống”?
Luận điểm của anh ta rất rõ ràng, chỉ cần cùng thời gian sinh thì mệnh vận sẽ như nhau, không thể khác nhau hoặc phân thành suy vượng được.
Ta tự hỏi: mỗi ngày cùng là “ngày” cả, thế tại sao còn có xuân hạ thu đông, có nóng lạnh khác nhau? Ðất cũng là cùng một quả đất, vì sao có chỗ nước, chỗ không, chỗ cao, chỗ thấp? Cùng một mảnh đất, cùng một hạt lúa, cùng trồng sáu tháng vì sao có cây cao, cây thấp? Cũng một cành cây, tại sao có quả to, quả nhỏ? Thân thể con người là một khối thống nhất, tại sao công năng của lục phủ, ngũ tạng lại có cái mạnh, cái yếu, có cái tốt, cái xấu?
Ta lại tự hỏi: cơ thể con người là thống nhất, lục phủ ngũ tạng ở trong mình là tự người mẹ sinh ra, tất cả cùng giờ sinh thế mà chỉ có gan mọc khối u còn những tạng phủ khác thì không bị. Vậy giữa chúng quả thực có sự khác nhau rất lớn. Trong khoa tử vi chúng ta thường nghe những thắc mắc, cụ thể là: “Trong cùng một giờ, một ngày, một tháng, một năm có hàng vạn vạn người sinh ra, không lẽ cuộc đời họ cũng giống nhau ư”?
Lá số giống nhau nhưng số phận khác nhau, tử vi có đúng không?
Là một người nghiên cứu về Tâm linh, Tử vi, Phong Thủy, Tướng số, tôi đã tập hợp những nghiên cứu của các nhà khoa học trong các lĩnh vực trên giải mã những câu hỏi này để bạn đọc tham khảo và hiểu đúng về Tử Vi.
2. Xét về các yếu tố tạo nên sự khác biệt trong cùng một lá số Tử Vi
2.1. Câu hỏi thắc mắc
Khi xem tử vi là có rất nhiều người sinh cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng cùng năm, 60 năm thì chu kỳ lại còn lặp 1 lần, như vậy thì cuộc đời của họ có giống nhau hay không? Một người đã hỏi tôi rằng: “vậy hai người sinh cùng giờ, ngày, tháng, năm và cùng một khu vực thì có cuộc đời giống nhau hay không”?
Như vậy, câu hỏi này lại phải vận dụng đến phương pháp xem tướng và Phong Thủy để xét đoán vận mệnh.
Theo phương pháp xem lá số, tướng mạng và phong thủy, con người có cấu tạo, cốt cách cấu thành khác nhau sẽ có số phận, do đó, cuộc đời hoàn toàn không giống nhau.Cả hai câu hỏi này xin trả lời chung là:
2.2. Giải đáp các yếu tố tạo nên sự khác biệt của câu hỏi
a. Lá số của người đó và lá số của những người thân liên quan
Tử vi là một bộ môn khoa học mang tính tổng kết xác suất cũng như chiêm nghiệm trong thời gian dài. Trong quá trình nghiên cứu, rất nhiều học giả uyên bác, nhiều thầy tử vi vĩ đại đều nhận định những lá số giống nhau chỉ có những điểm tương đồng, tuyệt nhiên không thể giống nhau 100% vì có quá nhiều biến số (những người thân trong gia đình, Nhân tướng học, phong thủy mồ mả và nhà ở, đức năng thắng số… ) tác động vào và đây là những biến số lớn nhất.
- Nếu xung quanh bạn đều là những lá số đẹp, từ bố mẹ, anh chị em đến ông bà, cụ kỵ tổ tiên thì đương nhiên phúc phần và những gì tốt đẹp của những lá số kia sẽ ảnh hưởng tích cực đến lá số của bạn, dù lá số của bạn có xấu cỡ nào thì cũng vì hưởng phúc phần mà tốt lên rất nhiều.
b. Theo nhân tướng học và di truyền học
Khi sinh ra do tác động của gen di truyền dòng tộc nên tướng mạo và hình dáng của mỗi người khác nhau. Câu kinh điển khi xem nhân tướng là: “Tướng tùy tâm sinh, tâm tùy tướng diệt”, cũng như chỉ tay hay nét mặt, khí sắc đều thay đổi khi tâm tĩnh mà tích đức làm việc thiện. Những khác nhau về nhân tướng học của mỗi người không giống nhau nên số phận mỗi người khác nhau. Tóm lại:
Tướng mặt, vân tay không giống nhau,
Cốt tướng của người khác nhau.
Gen di truyền của mỗi người không hoàn toàn giống nhau.
Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
c. Luật Nhân quả và Luân hồi
Việc này nghe có vẻ hết sức mơ hồ và có màu sắc mê tín dị đoan, nhưng nếu bạn nào theo Phật hoặc tìm hiểu về đạo Phật, cũng như đạo Mẫu và thờ cúng tổ tiên đều sẽ chứng kiến những người sinh ra phải chịu nghiệp của cả dòng họ do những việc của tiền kiếp hoặc những người họ hàng từ nhiều đời trước gây ra tạo nghiệp.
d. Phong thủy ngũ hành, mồ mả và nhà ở
Lá số tử vi là định mệnh có sẵn khi sinh ra nên không thay đổi được (chiếm 60% cuộc đời) nhưng còn 40% cuộc đời là do tướng diện, phong thủy, mồ mả, nhà ở, đồ dùng, cách ăn mặc và cách tu nhân tích (cụ thể có thê xem bài Luận về số phận và cách cải số đã đăng ngày 9/07/2013).
đ. Đức năng thắng số
Nếu lá số của mình xấu mà mình toàn tâm cải số, biết xấu mà tránh, biết phát huy điểm mạnh, biết dựa vào những điểm nổi trội của mình và dùng phong thủy cải số, để vươn lên thì sẽ có kết quả hơn hẳn những người có lá số đẹp mà ỷ lại hoặc cố tình lao vào con đường làm hại người khác hay ăn chơi trác táng.
3. Giải mã các yếu tố tạo nên sự khác biệt của người có cùng lá số
3.1. Cung Phúc tốt hay xấu sẽ tạo nên sự khác nhau
a. Cung Phúc tốt xấu
Một câu hỏi khác: “Vận số của một người vốn là trường thọ, sống đến ngoài bảy mươi. Tại sao chỉ mới ngoài hai mươi là đã gặp tai nạn mà chết”?
Điều này đã chép ngay phần đầu của “Tử Vi Kinh”, trong bài phú “Tử Vi cốt tủy” như sau: “Phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ do phúc trạch cát hung” (Thương, tang, hình, khổn, hạnh, lạc, hỉ, hoan, Thị tại vận hành hung cát)
Chìa khóa của khoa Tử Vi là do câu trên. Khi xem số Tử Vi, thông thường tín nam, tín nữ chỉ chú ý đến những cung Mệnh, Tài, Quan cùng vận hạn. Ít người chú ý đến cung Phúc cũng như cung Tật Ách. Thật ra, cung Phúc rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến ba cung Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di là lẽ đương nhiên. Nó gần như khống chế toàn cuộc đời về: giàu nghèo, thọ yểu, sang hèn, vinh nhục, sầu thảm và khổ cực. Tùy theo cung Phúc tốt hay xấu mà biết đương số giàu hay nghèo, sống thọ hay chết yểu, sang hay hèn, cuộc đời bi ai hay toại chí, đắc thế…
- Cung Phúc bao gồm nhiều yếu tố cuộc đời như Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di. Cung Phúc chủ yếu ứng vào ngôi mộ mà đương số được hưởng phúc. Ngoài ra cung Phúc còn chịu ảnh hưởng của âm đức tích được hồi tiền kiếp của đương số, âm đức của phụ mẫu, huynh đệ, thê tài… Nếu hiện tại đương kiếp tích được nhiều âm đức thì cung Phúc giải được những khắc phá (nếu có) để trở nên tốt hơn. Như vậy, những người cùng số, có cuộc đời hao hao giống nhau, nhưng tùy theo cung Phúc mà phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ khác nhau.
b. Tại sao số là giàu nhưng giàu vẫn có sự khác nhau
Như hai đứa trẻ cùng số, (sinh cùng một giờ) nhưng thời ấu thơ sống với phụ mẫu, vận số phải chịu ảnh hưởng bởi vận số của phụ mẫu. Nếu phụ mẫu giàu sang, thì dù số đứa trẻ xấu vẫn được ấm no sung sướng. Còn như phụ mẫu cô bần, thì dù số đứa trẻ tốt vẫn phải chịu cảnh cơ hàn lúc nhỏ tuổi. Đó là “vận con phải thua vận cha”.
Từ đó, ta suy ra “Vận nhà không bằng vận làng,vận làng không bằng vận châu”. Rộng hơn chút nữa, một người ở trong làng, dù số tốt hay xấu cũng phải chịu chung số phận của cả làng. Tỷ như hai người cùng có số giàu. Một người sống trong làng giàu, thì của cải nhiều hơn hẳn. Còn người sống trong làng khó, thì chỉ giàu so với người trong làng, nghĩa là kha khá vậy thôi. Giàu có mỗi làng khác nhau nên giàu có mỗi người có cùng lá số khác nhau.
Trong tử vi lá số như nhau nhưng số phận khác nhau việc này được giải thích thông qua cung Phúc Đức, Cung này ảnh hưởng đến 11 cung còn lại. Phúc ở đây bao gồm Phúc của tổ tiên và Phúc của tự mình tạo ra, cho nên Phúc của mọi người là khác nhau, dẫn đến lá số tuy giống nhau nhưng cuộc đời sẽ khác nhau.
3.2. Tại sao số là trường thọ nhưng lại chết sớm?
a. Một câu hỏi khác được đặt ra là: “Vận số của một người vốn là trường thọ, sống đến ngoài bảy mươi. Tại sao chỉ mới ngoài hai mươi là đã gặp tai nạn mà chết”? Có khá nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân là khi người ta đi cùng thuyền, cũng giống như ở cùng làng, nếu hơn phân nửa người trong thuyền tận số thì thuyền đắm. Số còn lại bị chết oan theo. Trường hợp này gọi là “uổng tử” (chết vô can, chết oan). Những người chết oan theo dạng này rất tội, hồn oan vất vưởng nơi cõi thế, trở thành “uổng tử quỷ”, không được đi đầu thai ngay mà phải chờ đến khi đúng số mới được nhập âm tào.
Tuy vậy, nếu như đương số có nhiều âm đức, hoặc được phúc tinh chiếu mệnh, quý nhân phò trợ thì không đến nỗi chết oan, bất quá hao tài tán của vậy thôi.
Ví dụ điển hình: Có nhiều người phúc lớn khi máy bay rơi xuống biển, toàn bộ người trên máy bay đều tử nạn nhưng có đứa trẻ vẫn sống sót ngồi tên cái ghế trong mấy ngày giữa biền và được cứu sống. Có những trường hợp xe lao xuống vực, một số người chết, một số người bị thương, một số người vô sự. Những người tới số thì chết, người chưa tới số thì chết hay bị thương, người chưa tới số và có phúc đức thì binh an vô sự. Nhìn chung, số mạng con người cũng tùy theo phúc lớn hay nhỏ sẽ được giải cứu.
Lại có câu: “Vận châu không bằng vận nước, vận nước không bằng vận thiên hạ”. Rộng hơn nữa, một châu không có người chết, nhưng vận nước có binh ách, hay thiên tai như lũ quét, động đất, sóng thần, châu huyện ấy cũng chịu chung số phận, ắt có nhiều người chưa tới số nhưng vẫn phải chết và trở thành oan hồn.
b. Phân tích lý giải
Nếu tìm hiểu sâu về tử vi, các bạn sẽ tự chiêm nghiệm được những lời trên. Những người nói trên là người gặp năm hạn, tức vào những năm có đại hạn hay tiểu hạn, nếu phúc lớn thì tai qua nạn khỏi phúc kém thì tử vong hay thương tật. Xem vận hạn thấy “Nhân sinh hữu mạng”, con người sinh ra đều có ngày giờ, tháng năm ứng vào sự vận hành của các vì sao trong Thiên Hà. Đối với mỗi cá nhân, vào mỗi độ tuổi đều chịu ảnh hưởng của sao năm đó chiếu mệnh mà gặp phải vận hạn lớn nhỏ khác nhau. Nhưng không phải những người cùng tuổi, cùng lá số tử vi thì gặp vận hạn như nhau mà còn phụ thuộc vào yếu tố nhân quả. Theo đó, nếu làm nhiều điều thiện thì những tiêu chí hạn xung sẽ được giảm đi. Còn nếu làm nhiều điều xấu thì yếu tố vận hạn xung sẽ lại tăng lên. Khi gặp phải sao hạn xấu, người ta thường phải tìm cách cúng sao giải hạn. Tuy không thể hoàn toàn đổi từ xấu sang tốt nhưng cũng phần nào giảm thiểu sự rủi ro kém may mắn trong năm.


4. Giải mã theo phong thủy, ngũ hành, mồ mả và nhà ở
Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, không có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ nói vắn tắt như sau:
4.1 Sinh ra ở những Phương vị khác nhau
Phương Nam là Hỏa, phương Đông là Mộc, phương Bắc là Thủy, phương tây là Kim. Người mệnh Hỏa nhưng sinh ở phương Nam là tốt, phương Bắc là xấu vì phương Nam là đất Hỏa vượng, phương Bắc bị Thủy khắc cho nên người sinh ở phương Bắc sẽ không như người sinh ở phương Nam dù cùng mệnh Hỏa. Từ đó, số mệnh sẽ khác nhau.
4.2 Bản mệnh của đương số và người thân tương sinh, tương khắc nhau
Năm mệnh của bản thân, năm mệnh của phụ mẫu khác nhau. Năm mệnh của anh chị em cũng khác nhau. Năm mệnh hôn nhân khác nhau. Năm mệnh của con cái và số con đều khác nhau.
Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau. Ví dụ có một người mệnh Mộc, cha mẹ đều là mệnh Kim, đều khắc anh ta. Có người tuy cũng là mệnh Mộc, nhưng cha mẹ đều là mệnh Thủy, thủy sinh mộc, lại làm vượn cho anh ta. Người bị khắc cuộc sống sẽ không thuận, người được tương sinh cuộc sống sẽ thuận.
4.3 Mộ tổ, nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau
Ngày xưa đã có câu: “Nhất mộ, nhì phòng (nhà ở), tam bát tự” tức là nói mệnh vận tốt, xấu của một người. Thứ nhất, quyết định ở phong thủy phần mộ ông cha tốt hay xấu. Thứ hai, quyết định ở phong thủy của nhà ở; Thứ ba, quyết định ở sự sắp xếp tổ hợp của tứ trụ. Cho nên, cho dù ngày giờ sinh giống nhau, nhưng phần mộ tổ tiên và nhà ở không hoàn toàn giống nhau được.Vì vậy để có số tốt người ta phải đi tìm long mạch để đặt mộ phần cho Tổ Tiên và tìm đất có phong thủy tốt để làm nhà ở.
4.4 Ðiểm sáng của Sao chỉ có một
Vào giờ sinh có một sao là chủ. Tuy có hàng nghìn, hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của Sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Trong một giờ sao đó sẽ đi được một góc 30 độ. Nếu điểm sáng của sao này chiếu đúng vào nhà một người nào đó (Vuông góc), đúng lúc người mang thai đang sinh, người đó có thể sẽ là hoàng đế, còn những người khác thì không làm nổi hoàng đế.
5. Những người sinh đôi thường là cùng giờ sinh, vậy số mệnh họ có giống nhau không?
5.1 Hiện tượng người sinh đôi số mệnh khác nhau
Trong thực tế nhiều cặp sinh đôi cùng cùng giới tính, cùng giờ, ngày, tháng, năm. Tên lá số Tử vi của hai người giống nhau 100% nhưng cuộc đời không mấy gì giống nhau, nếu không muốn nói là chỉ giống nhau hình dáng, chung cha mẹ và gen di truyền, còn lại số mạng thì lại rất khc1 nhau.
5.2 Giải mã điều này như thế nào?
Khoa Tử vi căn cứ vào ngày tháng năm sinh, giờ sinh để lập lá số cho mỗi người nên Tử vi chỉ định hai lá số sinh đôi cùng giới hoàn toàn giống nhau nhưng cuộc đời thì nhiều khi định lượng khác nhau. Giống như điểm xét tuyển vào đại học là 16 điểm thì người 15 điểm sẽ rớt Đại học phải vào Cao đẳng, còn 16 điểm thì đỗ vào Đại học. Cùng vào đại học có ngành lấy 20 đểm, có ngành chỉ 18 điểm nhưng xét trên mặt định tính thì thật là chẳng khác nhau bao nhiêu.
Giải mã điều này phải dùng tử vi kết hợp Kinh Dịch và Tâm Linh để giải thích. Nếu chỉ dùng tướng số hoàn toàn không thể giải thích được vì tướng mạo và các thông số của hai người sinh đôi bao giờ cũng giống nhau rồi. Theo phương pháp tử vi cho rằng, cuộc đời con người có những điểm đến hạn mà tại đây tùy vào cá nhân mà số mệnh số mạng hai người sinh đôi này có thể bước sang những ngã rẽ khác nhau. Lý do này được giải thích như sau:
a. Giải thích theo Kinh Dịch, Âm Dương
Nếu cả hai sinh vào ngày Dương (ngày 1, 3, 5, 7…), người ra trước sẽ là anh, là chị thì anh chị là số dương (số 1), hai số cùng Dương sẽ mạnh hơn, tốt hơn. Người sinh thứ hai sẽ là Âm ngày 2, 4, 6… (số 2) sẽ yếu hơn, xấu hơn theo đúng quy luật dương thịnh, âm suy. Nếu cả hai sinh vào ngày âm, người ra trước sẽ là anh, là chị thì anh chị là số dương (số 1), ngày Âm nên sẽ yếu hơn, xấu hơn. Người sinh thứ hai sẽ là âm (số 2) âm với âm sẽ làm cho âm thịnh dương suy. Khí âm mạnh hơn nên người em sẽ mạnh hơn, tốt hơn anh chị.
b. Giải thích theo khoa học Tâm linh
Theo khoa học Tâm linh thì một cơ thể khi sinh ra luôn có hai phần là Thể xác và Linh hồn. Một bào thai chứa hai đứa trẻ thì có hai linh hồn khác nhau cùng trú ngụ và hai linh hồn đầu thai là hai linh hồn có tiền kiếp khác nhau. Có người tiền kiếp của họ tốt thì khi ra đời sẽ có phúc lớn, linh hồn thứ hai có tiền kiếp xấu hơn thì phúc phần sẽ kém hơn. Điều này chỉ được thể hiện rõ sau 30 tuổi, khi người đó lấy chồng và sinh con thì mạng chồng vợ và con sẽ tác động đến số của người sinh đôi có cùng lá số.
Một điều cần lưu ý là vì hai linh hồn của kiếp trước khác nhau nên tính nết của hai trẻ song sinh sẽ khác nhau và dấu vân tay của chúng cũng khác nhau.
c. Giải thích theo lá số và Ngũ hành
Từ khi lấy chồng và sinh con thì cuộc đời người đó sẽ gắn liền với chồng/ vợ và các con. Lá số của chồng/ vợ và các con sẽ khác nhau, nếu người chồng có lá số tốt thì người phối ngẫu sẽ tốt theo, người phối ngẫu có lá số xấu thì người kia sẽ ảnh hưởng theo. Một lý do khác là Người con sinh ra vào năm xung với mạng và ngũ hành với cha mẹ thì cha mẹ cũng ảnh hưởng như cha mẹ mạng Hỏa, con mạng Thủy là xung khắc, còn người song sinh kia có người hôn phối và các con có ngũ hanh tương sinh thì tốt hơn như Con mạng Thủy, cha mẹ mạng Mộc, Thủy sinh Mộc thì cha mẹ may mắn. Vì vậy mà cuộc đời 2 người song sinh này chỉ khác nhau chút ít nhưng đã có những số phận khác nhau chưa kể sau khi sinh ra mỗi người lại học tập và làm việc tại các khu vực khác nhau.
d. Giải thích theo Âm dương thuận nghịch
Nếu cặp song sinh là một nam và một nữ thì lá số của họ khác nhau, theo cách lập lá số nam thuận nữ nghịch trở thành hai lá số khác nhau không phải bàn nữa. Nếu bào thai người sinh ba, bốn hay năm thì sẽ có bấy nhiêu linh hồn khác nhau của tiền kiếp đầu thai nên những đứa trẻ này sẽ khác nhau về tính cách và dấu vân tay. Vì vậy số phận cuộc đời mỗi người sẽ khác nhau.
Kết luận
Trong tử vi lá số như nhau nhưng số phận khác nhau việc này được giải thích thông qua cung Phúc Đức, Cung này ảnh hưởng đến 11 cung còn lại. Phúc ở đây bao gồm Phúc của tổ tiên và Phúc của tự mình tạo ra, cho nên Phúc của mọi người là khác nhau, dẫn đến lá số tuy giống nhau nhưng cuộc đời sẽ khác nhau. Trên thực tế, một thầy giỏi phải biết kết hợp cả tử vi và xem tướng kết hợp cùng với xem chỉ tay hoặc cùng với các bộ môn khoa học khác như phong thủy, tâm linh thì mới đưa ra được đáp án gần chính xác nhất về số phận của một người. Sau khi biết về số mệnh người đó thì dùng phong thủy để cải lá số tử vi cho tốt hơn. ( GS.TS Cao Ngọc Lân)