ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

Pháp sư Tịnh Không nói về người bệnh ốm đau lâu ngày?

(Tam Thánh Tây Phương)

Trong nhiều bài kinh chúng ta cũng thường thấy hình ảnh đức Phật bị bệnh tật, bị  bệnh. Đúng vậy đã có thân thì phải có bệnh. Vậy bệnh từ đâu đến? đức Phật dạy bệnh tật cũng do nhân quả sinh ra, do nghiệp lực tác thành. Sau khi đọc qua bài Kinh Miếng Đá Vụn, chúng ta sẽ thấy được một hình ảnh mô tả rất cụ thể và sinh động về một sự việc xảy ra khi chân của Đức Phật  bị miếng đá bể đâm phải vào chân.

Đó là một sự việc rất thường tình, rất bình thường, rất giản dị của đức Phật trong những lúc Ngài bị những chướng ngại ác pháp của môi trường nhân quả tấn công vào xác thân vô thường.
Những lần đức Phật bị bệnh trên cái thân tứ đại vô thường này, thì tâm tư của Đức Phật không hờ biểu lộ một chút sợ hãi hoặc lo lắng gì cả.

Về thân thì những cảm thọ rất đau đớn khốc liệt đang hoành hành liên tục hiện hữu trên xác thân của Phật, mà về tâm thì Đức Phật  chỉ hướng đến đó là “chính niệm tỉnh giác”. Chúng ta hãy xem cách thức, phương pháp đức Phật làm chủ vượt qua những cảm thọ của bệnh tật  “Cảm thọ Thế Tôn mãnh liệt. Thân cảm thọ khổ đau, nhói đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú. Nhưng Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền não”.

Phương pháp mà đức Phật làm chủ bệnh, vượt qua bệnh tật đó là Phật chỉ dùng phương pháp “Chánh Niệm Tỉnh Giác”. Trên thân này dù cảm thọ đau đớn khốc liệt đến đâu thì Ngài vẫn không  sợ hãi, vẫn không  lo lắng, vẫn không  bị tác động, vẫn không  bị chi phối bởi những cảm giác, cảm thọ đau đớn khốc liệt đang hiện hữu trên thân của Ngài. 

Đời sống sinh hoạt của đức Phật rất bình thường. Hằng ngày, đức Phật vẫn sống một đời sống “phạm hạnh” trong sạch hoàn toàn. Sống với ba y một bát, ngày ăn một bữa, không cất giữ tiền bạc, đức Phật là một du tăng khất sĩ nên không có nơi nào là chùa, tịnh xá, để Ngài tạm trú  lâu dài, Ngài thường đi du tăng từ chỗ này đến chỗ kia để đem giáo pháp giác ngộ sự thật của khổ đau đến cho chúng sanh có đầy đủ nhân duyên tiếp nhận chánh pháp.
     
     Pháp sư Tịnh Không nói về những người ốm đau lâu ngày không khỏi (không do bệnh ung thư).Là những  “người sống không ra sống mà chết không ra chết”.Những người này thường bị ốm do một hoặc nhiều bệnh và thường nằm hay ngồi một chỗ ngắn thì 2-3 năm dài thì hàng chục năm; có người dầm dề tại chỗ; có người ăn rất ít mà chỉ tốn tiền thuốc; có người không tốn tiền thuốc nhưng lại ăn rất khỏe “ăn như hùm đổ đó” con cháu phục dịch rất khổ; làm“khuynh gia bại sản”? Trong thực tế con cháu có gia đình  người bệnh còn khênh người bệnh ra ngoài trời “Xin ông trời có mắt cho người bệnh đi sớm”; có gia đình còn đục mái nhà cho mưa nắng rọi vào mong người bệnh sớm ra đi?

Tại sao lại như vậy; Những người này theo Pháp sư Tịnh Không:

Thứ nhất là do nhiều đời trước nhiều kiếp (hay ngay trong đời này) nợ nần nhiều nên “oan gia trái chủ” đến đòi nợ? Và hành cho con nợ ốm đau dài ngày?

Thứ hai: Do trong nhiều đời nhiều kiếp đã tu và làm nhiều điều thiện lành hay ngay trong đời này; do vậy vẫn  còn một chút “phước báu” muốn hưởng nốt rồi mới “đi được”?

Gặp phải những cảnh trên; theo hóa giải của PS Tịnh Không; là gia đình của người  bệnh nên “Khai thị” cho người bệnh là phải biết “Tu Phật” và “Tu Phước”( các tôn giáo khác cũng thực hiện tương tự theo cách của Phật giáo). Tu Phật là niệm Phật và Tu Phước là làm nhiều việc từ thiện.Trước tiên “nói để” người bệnh biết đến Phật-Pháp vì đã là con người thì ai cũng phải trải qua quá trình “Sinh-Già-Bệnh-Chết”. Đối với người bình thường có cuộc sống an lạc thì quá trình bệnh cũng ngắn rồi “đi theo ông bà tổ tiên” hoặc người  đã “Tu Phật”thì “đi” rất nhanh không làm khổ con cháu; quá trình “ Già” thường dài hơn và vẫn có cuộc sống khỏe-sống vui-sống có ích.

    Hóa giải của PS Tịnh Không đối với người bệnh mắc nợ  trong nhiều đời nhiều kiếp hay đời này mắc nợ nhiều thì  đều “phải trả” trước khi “ra đi”; cho nên phải hướng dẫn để người bệnh đồng ý “tu Phật và Quy y”; sau đó xem người bệnh có còn tài sản gì không (nếu quy trị giá là tiền là tốt nhất); nếu người bệnh không còn thì con cháu phải bàn nhau giúp người bệnh ; việc đầu tiên là sử dụng một phần tài sản đó  đến cúng dường “tam bảo”; sau đó là làm từ thiện ngay trong xóm làng hay địa phương mình, như  giúp  người nghèo, góp xây trường học, góp quĩ khuyến học, quĩ từ thiện…Những việc này phải thông tin để người bệnh biết và hàng ngày hướng dẫn người bệnh “niệm phật A DI Đà”; nên để tượng Phật A Di Đà hoặc tượng Tam thánh Phật (Tượng A DI ĐÀ-QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT-ĐẠI THẾ CHÍ-BỒ TÁT) trước mặt người bệnh để  nhìn thấy. Làm được như vậy thời gian ngắn người bệnh sẽ “vãng sanh” về nước Cực Lạc của Đức  Phật  A DI ĐÀ. Còn người "còn Phước báu" khi đã hưởng "hết phước" cũng mau siêu thoát về về nước Cực Lạc của Đức  Phật  A DI ĐÀ;

(Trường hợp những người bệnh trên chưa hết số sẽ khỏi bệnh) ./,


 (Ngô Lê Lợi- TP Hồ Chí Minh ngày 24/10/2018)

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Ai là là người không nên đứng mũi chịu sào?



Bỏ tiền vào hòm công đức (Ruộng Phước Điền)

Có hai loại người không nên làm người đứng đầu hay chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực quản lí nhà nước hay doanh nghiệp; là:

Loại người thứ nhất là người mệnh VCD?
Loại người thứ hai là ít phước?
Loại người thứ nhất là người mệnh VCD?  Không có khả năng quyết đoán: Ở đây  không nói về tài năng (có học hoặc không có học)  mà nói về môi trường làm việc. Người có mệnh VCD (tức là không có chính tinh thủ mạng) phải vay mượn và tuỳ thuộc vào chính tinh ở cung xung chiếu, và khi đã phải tuỳ thuộc tức là không có căn bản vững, hoặc nói nôm na là không có gốc. Nếu không được cung xung chiếu có sao tốt lại phải hướng sang hai cung hợp chiếu (Tài và Quan) mà ảnh hưởng sẽ yếu hơn nhiều và do đó môi trường của Mệnh lại càng bấp bênh hơn nữa. Vì vậy, dù cho người Mệnh VCD  có tài năng, thông minhn cũng  rất dễ bị thăng trầm về sự nghiệp khi gặp Đại tiểu hạn giao động mạnh, không khác gì căn nhà không có cửa bị cơn gió lốc thổi thốc vào làm tan tác cả căn nhà, kể cả   có Tuần Triệt án ngữ cũng ảnh hưởng ít nhiều.
 Khó đóng vai trò chính: Không nên giữ vai trò chính trong bất cứ lĩnh vực, cảnh ngộ nào, từ xã hội, gia đình cho đến hôn nhân.Nếu tự mình lập doanh nghiệp hay giao chức “trưởng” không nên làm “trưởng”; mà có nhận thì cũng nên  làm cấp “phó” thì yên thân, nếu làm chính dễ bị mất chức. Kinh nghiệm cho thấy  ngay trong gia đình cũng vậy, người Mệnh VCD cần phải là con thứ hoặc nếu chẳng may là con trưởng thì cần cho em làm các công việc chính còn mình chỉ là “phụ tá” thì tốt hơn. Đó là một điểm “cần ghi nhớ” của  người Mệnh VCD. Kể ra cũng chẳng có gì khó hiểu, vì khi căn nhà trống  thì ta cần có một cái vật gì đó che bớt cho khuất gió, tuy hơi trở ngại nhưng đỡ bị tan tác khi có gió mưa lớn. Về người cũng vậy, nếu có người khác “đứng mũi chịu sào” thì khi gặp trách nhiệm lớn lao mình làm phó đâu có chịu lỗi nhiều hoặc gánh vác nhiều, dù cho mình có nhiều khả năng chăng nữa. Còn về hôn nhân tuy không đặt vấn đề trách nhiệm nhưng phải có cái gì đó “án ngữ“ gián tiếp, ví như Tuần, Triệt vậy; Mệnh VCD đòi hỏi người vợ phải đứng mũi chịu sào và gách vác công việc cho nhà chồng.
Khó thành danh sớm: Đa số người Mệnh VCD khó phát khi còn trẻ, mà từ trung tuổi thì mới làm nên và có danh; người Mệnh VCD cũng đừng bao giờ qúa thất vọng khi thấy sự nghiệp, công danh của mình phát chậm, miễn là những đại vận từ trung vận trở đi không sẽ tốt. 
Khả năng vươn lên kém:Do hay gặp thất bại chở nên trở nên ngại xông xáo tiến lên, dù có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng vậy. Và nhiều khi muốn có cuộc sống lệ thuộc vào một việc gì đó rất sợ gặp thất bại. Còn cụ thể tiến thủ về việc gì còn phụ thuộc vào cung mượn/ xung chiếu.Khi mình nhờ  các cung chiếu thì mình phải chịu ảnh hưởng của cung đó, nếu không muốn nói là lệ thuộc và khi đã ở cảnh ngộ như thế thì làm sao phải giữ vững được lập trường. 
 Ưu điểm của Mệnh VCD: Do thất bại nhiều có thể nói là kinh nghiệm nhiều ; nhưng cũng tiếp nhận dễ dàng những tinh hoa của cuộc đời  do khả năng tìm hiểu, tò mò, kiên nhẫn của mình, mức độ thành công tùy theo các cách tốt trong tử vi. Do vậy  người Mệnh VCD  khôn ngoan sắc sảo là thế; Nhưng trong “phép” dùng người thì nên dùng người Mệnh Vô Chính Diệu vì họ rất chịu khó học hỏi, có lương tâm nhà nghề, có óc cầu tiến, nhưng không nên giao  vai trò chủ chốt mầ nên giao làm cấp “phó” để cho họ khỏi bị mất chức. Người Mệnh VCD cũng ít bị tai nạn chứ không phải là chẳng bao giờ bị tai nạn. Sở dĩ họ được điểm may như vậy là vì Mệnh Vô Chính Diệu khi gặp Đại tiểu hạn Sát Phá Liêm Tham và hung tinh đắc địa lại phát mạnh, trong khi Mệnh có chính tinh lại không hợp và có khi còn bị nguy hại. Như vậy là Mệnh VCD đã bớt đi một số yếu tố tai hại vì đã quen với hung tinh.
Vì theo nguyên tắc chỉ có hung tinh mới gây ra tai ương nhiều hơn các sao khác, vì các bại tinh chỉ gây thất bại hoặc bịnh hoạn chứ ít khi đem đến tai nạn như hung tinh. Như vậy kể ra cũng công bằng vì người Mệnh VCD thường hay khổ về tinh thần thì ít ra cũng phải bớt được tai ương nhiều. Dễ thích ứng với hoàn cảnh Mệnh VCD  chẳng khác gì Mệnh trung lập, do đó đỡ bị gặp bước đường cùng. Vhí dụ như hạn gặp Tuần, Triệt hoặc Thiên Không đối với Mệnh có chính tinh (nhất là sao Tử-Phủ) thì rất tai hại, bất lợi nhưng đối với Mệnh VCD lại hay vì không khác gì nhà cửa đang trống trải bị gió thốc vào nay lại được lắp cửa ngõ đàng hoàng (tức là Tuần Triệt, Thiên Không) thì căn nhà yên ổn biết bao. Người có Mệnh  VCD  luôn luôn gặp gập ngềnh trên đường đời bù lại gặp hoàn cảnh nào cũng thích ứng được rồi dần dần ổn định.
            Ví dụ: một lá số Mệnh VCD. Người này được đào tạo bài bản ở nước ngoài về một ngành nông nghiệp; gia đình có tiền; về nước thành lập một công ty về nông nghiệp sau hai năm thì phá sản? Và bây giờ đang làm tự do…?
Loại người thứ hai là ít phước? 
Loại người ít phước là như thế nào? Trong việc tu phước, thì phước báo do chúng ta tu được đó, được chia làm 2 loại: Âm đức và Phước đức. Người tích âm đức thì bản thân người đó và con cháu đời sau sẽ nhờ âm đức này mà được tiêu tai giải nạn, gặp dữ hoá lành, công thành danh toại, gia tộc hưng vượng. Người tích phước đức thì bản thân người đó và con cháu đời sau được hưởng thụ những tiếng thơm và niềm vui vật chất. Vậy âm đức và phước đức là gì?
Âm đức là làm việc tốt mà không để cho người khác biết, hay lặng lẽ đi làm, đây gọi là âm đức. Âm đức thì quả báo dày. Điển hình là những nhà hảo tâm giấu tên, những người hoằng pháp lợi sanh...Những việc làm như chăm sóc người gặp nạn, che chở người bị truy đổi hãm hại, cứu giúp kẻ khó khăn, đóng góp xây cầu, làm đường và các công trình công cộng, vì lợi ích của mọi người mà sẵn sàng xả thân đi làm....đều được xem là những việc làm tích luỹ âm đức. " Để vàng lại cho con cháu, chưa chắc con cháu đã giữ nổi. Để sách lại cho con cháu, chưa chắc con cháu đã đọc nổi. Không bằng để âm đức mờ mờ bên trong mà lâu dài cho con cháu".
Nếu chịu khó quan sát trong cuộc sống vài ba thế hệ trong một gia tộc nào đó ở quanh ta, thì dấu vết của âm đức rất khó tẩy xoá, phủ nhận.
Câu chuyện: Một người học ở Đức về nước với ngành Kiến trúc sư (KTS). Ông rất tài trong việc tư vấn và bán bất động sản. Do mới về chưa có vốn và kinh nghiệp nên làm giúp việc cho một công ty môi giới bất động sản(BĐS). Ông giám đốc công ty BĐS là người ít học và ngoại giao kém bù lại; lại có tiền do thừa kế nghề của cha mẹ để lại. Công ty BĐS do có ông KTS tư vấn làm ăn rất phát đạt thu tiền lời rất lớn; ông giám đốc phó thác công việc quản lí công ty cho ông KTS; ngày hay đi làm các công việc phước thiện. Ông KTS  này thấy công ty BĐS làm ăn dễ quá mà lời nhiều; nên sau một thời gian có kinh nghiệp xin nghỉ việc về quê bàn với anh em ở quê để mở  công ty BĐS. Công ty của ông KTS sau vài năm mở ra làm ăn thất bại; buôn bán không may nên lỗ và phá sản; tiền hùn hạp của anh em thua lỗ hết phải tha phương kiếm kế sinh nhai. Ông KTS đã tìm đến gặp Thầy Thích Giác Hạnh trụ trì chùa Phước Hội.  Hòa Thượng Thích Giác Hạnh (húy danh là Nguyễn Văn Não) sinh năm 1937 ,quê tại Long An. Xuất gia năm 14 tuổi cùng với Cố Đại Lão Hòa thượng Thích Thiện Bình tại chùa Thiên Phước (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Thầy Thích Giác Hạnh trả lời “Ông giám đốc BĐS là người không có học nhưng làm giám đốc công ty làm ăn phát đạt là do có Đại phước, cả dòng họ mấy đời làm thiện, bản thân ông ấy có tiền lại làm thiện nên công ty không những phát triển mà còn lời nhiều do có phước. Còn anh KTS “thiếu phước”; cả họ là nông dân làm còn chưa đủ ăn lấy đâu ra tiền làm phước cho nên phá sản là vậy? Cho nên anh chưa đủ phước duyên thành lập công ty chỉ nên đi làm thuê thì có lương mà sống và tập làm phước  đi... thì đời này đỡ khổ và có tiền trả nợ”?

(Ngô Lê Lợi- 22/10/2018-  TP Hồ Chí Minh)


Thứ Ba, 16 tháng 10, 2018

Giàu và Nghèo dưới góc nhìn của Phật giáo?


Tôn Giả Ca Diên Chiên

Họ nghèo vì biếng nhác, vụng về, đau ốm… thì đã đành. Nhưng có người đã hết sức cố gắng, đã làm đủ mọi cách nhưng vì nhiều lý do khác nhau chi phối nên vẫn không thoát được nghèo túng, thậm chí có người nghèo đến nỗi gần như mạt. Cái nghèo khó luôn bó lấy cái khôn ngoan nên có lúc họ gần như cùng quẫn. Vẫn biết “cùng tắc biến” nhưng “biến” không phải lúc nào cũng “thông” nên nghèo khó và lận đận cứ quay vòng lẩn quẩn mãi.

Mấy ai biết rằng, chúng ta giàu có hôm nay là do nhân lành của bố thí ngày trước. Và mấy ai ngộ ra rằng, sự nghèo khó trong hiện tại là do nhân ác nơi quá khứ trộm cướp của người. Nên người giàu muốn về sau tiếp tục khá giả giàu sang thì cần bố thí, san sẻ nhiều hơn. Còn người nghèo muốn đổi đời thì trước hết nên thành tâm sám hối nghiệp chướng rồi phát tâm công quả, bố thí (ngoài bố thí trong khả năng, rất cần tùy hỷ thí) và chí thú làm ăn lương thiện may ra mới khá lên được.

Thế nên, giàu sang cũng không nên quá tự hào và ỷ lại, mà nghèo khó cũng không nên quá tự ti và làm quấy làm càn. 

Hãy chiêm nghiệm lời dạy của Thế Tôn về sự giàu nghèo để tìm ra hướng đi đúng đắn cho cuộc đời mình:

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Ở trong chúng này, Ta không thấy một pháp nào đã được thực hành, thực hành nhiều rồi lại thành hạnh địa ngục, hạnh ngạ quỷ, hạnh súc sanh, nếu sanh trong loài người rất là nghèo túng, áo không đủ che thân, cơm chẳng đầy miệng như là việc ăn trộm.

Này các Tỳ-kheo! Nếu có người ý thích trộm cắp lấy tài vật của người khác, liền đọa trong ngạ quỷ, súc sanh; nếu sanh trong loài người rất là nghèo túng. Vì sao thế? Vì đoạn dứt nghiệp sống của người khác. Thế nên này các Tỳ-kheo, hãy học đừng lấy của chẳng cho. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

- Ở trong chúng này, Ta không thấy một pháp nào đã được thực hành, thực hành nhiều rồi hưởng phước trong loài người, hưởng phước trên trời, được chứng Niết-bàn, như là bố thí rộng rãi.

Này các Tỳ-kheo! Nếu có người rộng hành bố thí, ở đời hiện tại được sắc đẹp, được sức lực, được đầy đủ, trên trời, trong loài người hưởng phước vô lượng. Thế nên, các Tỳ-kheo, nên hành bố thí, chớ có tâm keo kiệt. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Ngũ giới, 
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.185)


Rõ ràng, cuộc sống hiện tại của mình là do chính phước nghiệp của mình chi phối. Nhân quả - Nghiệp báo luôn gắn bó chặt chẽ với nhau như bóng theo hình. Suy nghiệm sâu sắc chúng ta sẽ thấy, giàu hay nghèo đều có nguyên nhân, không phải ngẫu nhiên hay tự nhiên, không do hên xui may rủi, tự thân mình tài giỏi hay vụng về chỉ là tác nhân trong hiện tại còn có sự chi phối mãnh liệt của nhiều tác nhân quá khứ nữa.

    Thấy được như vậy rồi, người đệ tử Phật sống có trách nhiệm với bản thân mình, tin tưởng sâu sắc vào nhân quả, tôn trọng tài sản của người khác, quyết không lấy bất cứ thứ gì dù nhỏ như cây kim ngọn cỏ nếu không được cho, nhất là thận trọng với các nguồn lợi có được dễ dàng vốn không phải do công sức mình làm ra. Chỉ thực hành chừng ấy thôi, người đệ tử Phật đã làm được rất nhiều trong quá trình tu dưỡng và hoàn thiện tự thân cũng như đã đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh.Trong bối cảnh đời sống xã hội mà trộm cướp như rươi, tham nhũng là quốc nạn thì nhận thức và tu dưỡng bản thân về “giàu và nghèo” theo như lời Phật dạy có ý nghĩa căn cơ trong việc thiết lập nền tảng đạo đức cho cộng đồng. Chỉ cần tu tập hạnh “đừng lấy của chẳng cho” và “nên hành bố thí, chớ có tâm keo kiệt” thì đã góp phần không nhỏ đem đến bình an cho bản thân và phú cường cho đất nước. (Quảng Tánh)


Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

Lợi ích của người có Tu Phật



HIẾU DƯỠNG PHỤNG THỜ CHA MẸ

Người Phật tử chân chính ngoài những trách nhiệm lo cho gia đình người thân và đóng góp xã hội, người con hiếu thảo cần có bổn phận phải chăm lo đầy đủ, vật chất và tinh thần cho cha mẹ.

  Siêng năng làm việc để có của cải nuôi dưỡng cha mẹ: Người Phật tử chân chính, trước tiên phải có bổn phận trách nhiệm của một người con đối với cha mẹ, là phải biết làm tăng thêm tài sản của cải, vật chất để nuôi dưỡng cha mẹ bằng đôi bàn tay và khối óc của mình.

  Thay thế cha mẹ gánh vác công việc nặng nhọc, con cái chính là sự tiếp nối quan trọng, để duy trì nghề nghiệp, công việc của cha mẹ. Nếu trong gia đình mà không có người kế nghiệp được xem như là một bất hạnh lớn.

  Cáng đáng việc nhà, làm tròn bổn phận đối với cha mẹ. Ý thức trách nhiệm, làm tròn bổn phận của một người con hiếu thảo. Thay thế cha mẹ phát triển và mở mang nghề nghiệp thêm lớn mạnh, là nhiệm vụ cao cả của người con.

  Giữ gìn truyền thống gia phong tốt đẹp: Truyền thống gia phong là truyền thống đạo đức gia đình, của dòng tộc được giữ gìn và truyền thừa qua nhiều thế hệ tiếp nối. Truyền thống này có thể bao gồm cả những yếu tố tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, truyền thống gia phong ở đây là chúng ta phải hiểu rõ và thấm nhuần những giá trị đạo đức tốt đẹp. Đạo đức tốt đẹp thuần thiện là chất liệu sống, cần phải có trong các mối quan hệ giao tế, trong cách đối nhân xử thế giữa con người và các đối tác xung quanh.

  Không tự làm gì khi chưa hỏi cha mẹ và không được trái ý cha mẹ. Bổn phận người làm con khi muốn làm công việc gì cũng phải hỏi ý kiến cha mẹ trước, mục đích để giữ gìn truyền thống tốt đẹp của gia đình. Đạo Phật không dạy chúng ta phải tin theo các tín ngưỡng lạc hậu, mê tín có tính cách làm tổn hại con người.

  Bảo vệ tài sản được kế thừa từ cha mẹ. Tài sản mà cha mẹ để lại bao gồm tất cả những giá trị vật chất lẫn tinh thần. Ngoài ra, việc quản lý, giữ gìn và phát triển tài sản vật chất mà cha mẹ đã để lại cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với con cái. Chúng ta cần phải biết, việc tạo ra tài sản không phải dễ, nó đòi hỏi con người phải có đầy đủ năm yếu tố cơ bản: thứ nhất siêng năng tinh cần, thứ hai là tiết kiệm, thứ ba là không phóng túng hoang phí, thứ tư là khộng trộm cướp của ai và thứ năm là biết giúp đỡ, sẻ chia khi có nhân duyên. Việc tích lũy tài sản đã khó nhưng việc giữ gìn, bảo vệ tài sản đó được tồn tại lâu dài lại càng khó hơn.

  Khuyến khích cha mẹ hướng thiện và biết quy hướng về Tam bảo là trách nhiệm của con cái. Con cái có thể báo đáp thâm ân cao cả của cha mẹ qua hai phương diện vật chất và tinh thần. Phận làm con nếu khuyên cha mẹ biết quy hướng Tam bảo, tin sâu nhân quả tu học theo chánh pháp Phật-đà, như vậy mới chân thật đền đáp ân sâu. Có cha mẹ biết đi chùa tin sâu Tam bảo là phước báo lớn cho gia đình người thân. Tu học Phật pháp giúp cho cha mẹ an vui nơi chánh pháp, sống ít phiền muộn về tuổi già, vui hưởng an lạc hạnh phúc hiện tại và mai sau.

 Khi cha mẹ qua đời, người Phật tử nên tổ chức lễ tang đơn giản, đúng chánh pháp, để tạo hành trang tái sanh tốt cho cha mẹ.

  Người Phật tử nên tổ chức các lễ tưởng niệm cha mẹ vào dịp các tuần thất, một trăm ngày, giỗ hằng năm . . . tại chùa. Trong trường hợp tổ chức tại nhà, người Phật tử nên mời quý Thầy Cô và ban hộ niệm về nhà tụng kinh. Phẩm vật dâng cúng nên thuần chay. Người Phật tử cũng nên tu phước, bố thí, cúng dường Tam bảo, cúng dường Trai tăng để hồi hướng công đức cho cha mẹ.

TRÁCH NHIỆM CHA MẸ ĐỐI VỚI CON CÁI

  Người Phật tử khi làm cha mẹ phải có bổn phận thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái trưởng thành về thể chất, tinh thần, nhân cách, đạo đức; tạo dựng nghề nghiệp và khả năng tự lập cho con cái.

  Cha mẹ thương yêu con cái: Mối quan hệ của các bậc cha mẹ trong đạo Phật được đặt trên cơ sở đạo đức, do đó, sự ra đời của con cái không phải nhu cầu thỏa mãn các khoái lạc giác quan thông thường mà còn có tinh thần trách nhiệm. Các bậc cha mẹ xem việc nuôi nấng con cái là nền tảng đạo đức, là trách nhiệm thiêng liêng cao quý, mà ai làm cha mẹ cũng muốn cho con cái mình lớn khôn và trưởng thành.

 Cung cấp cho con cái đầy đủ: Cha mẹ có trách nhiệm với con cái là không để chúng thiếu thốn về vật chất và tinh thần. Trên phương diện vật chất, bậc làm cha mẹ phải tùy vào khả năng có được, để lo cho con cái đầy đủ như ăn uống mặc ở cho đến các phương tiện học hành phát triển tài năng, đạo đức và trí tuệ. Trên phương diện tinh thần, cha mẹ phải thường xuyên quan tâm chăm sóc, chia sẻ hỏi han để động viên con cái, vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

  Tạo dựng nghề nghiệp chân chính cho con cái, nhằm đảm bảo an sinh đời sống về lâu dài. Phật giáo luôn lấy nhân quả làm nền tảng để giáo dục mọi người ý thức rằng “nhân quả tốt xấu đều do mình tạo ra”. Đây là phương cách giáo dục vô cùng sáng suốt vì đã loại bỏ yếu tố ỷ lại vào người khác, và phát triển năng lực làm chủ bản thân.

  Tìm nơi chốn xứng đáng để dựng vợ gả chồng cho con cái: Trách nhiệm của các bậc cha mẹ ngoài việc giáo dục đạo đức tránh ác làm lành, ổn định nghề nghiệp, mà còn chăm lo đến đời sống lứa đôi cho con cái. Khi con cái đã đến tuổi trưởng thành, việc quyết định đời sống hôn nhân của chúng được quyền lựa chọn theo nhân duyên của mỗi người. Ngoài việc, truyền trao kinh nghiệm trong hôn nhân cho con cái, các bậc cha mẹ còn phải hướng dẫn con cái chọn lựa người bạn đời thích hợp để đảm bảo hạnh phúc gia đình.

  Cha mẹ có của cải vừa ý đều giao hết cho con cái: Trách nhiệm thứ năm này mang ý nghĩa pháp lý và tính nhân bản cao, việc truyền trao này bao gồm di chúc và tài sản thừa tự cho con cái. Có nhiều bậc cha mẹ đã không nghĩ tới chuyện này khi còn khỏe mạnh. Do đó, khi nhắm mắt ra đi,  anh chị em tranh giành tài sản do cha mẹ để lại, dẫn đến cảnh tan nhà nát cửa. Chính vì thế, để tránh các tình trạng trên, Đức Phật đã dạy các bậc cha mẹ phải di chúc và truyền lại gia tài khi mình còn sáng suốt và khỏe mạnh, trên tinh thần bình đẳng chia đều cho con cái, không kể là gái hay trai.

  Khi con được một tuổi, người Phật tử nên đem con đến chùa làm lễ bán khoán hay lễ khai tâm và ghi vào sổ bộ của bổn tự. Khi con được năm, sáu tuổi, người Phật tử nên dẫn con đến chùa học giáo lý, song song với chương trình thế học. Khi con lên tám tuổi nên hướng dẫn con làm lễ quy y Tam bảo, để con cái chính thức trở thành Phật tử. Cha mẹ phải biết giáo dục khi chúng còn nhỏ, trẻ con từ 3 đến 12 tuổi, mỗi lần đi chùa, chúng ta nên dẫn chúng theo, đến chùa tập cho chúng biết quỳ, biết lạy, biết dâng hương hoa, biết tỏ lòng cung kính đối với đức Phật và chư Tăng, Ni.

  Giáo dục con cái khi bắt đầu ở tuổi dậy thì: Chừng 13 tuổi trở đi cho đến tuổi đôi mươi, là tuổi đang tìm hiểu, biết tò mò, học hỏi, tham khảo những điều hay lẽ phải. Bậc cha mẹ hãy nên khuyến khích con cái đi chùa, quy hướng Tam bảo, có niềm tin sâu sắc đối với nhân quả, nhờ vậy con cái sẽ biết tránh ác làm lành mà sống đời đạo đức khi lớn khôn, trưởng thành.

  Cha mẹ dạy con khi còn nhỏ từ cách ăn uống, đi đứng, nói năng đều phải theo nguyên tắc kính trên nhường dưới, tin sâu nhân quả, tránh ác làm lành, tin chính mình là chủ nhân của bao điều họa phúc, nhờ vậy con cái khi khôn lớn trưởng thành sẽ biết cách hoàn thiện chính mình.

  Người Phật tử nên truyền chất Phật cho con qua các lễ bán khoán, thôi nôi, khai tâm, lễ quy y, lễ cưới, sinh nhật và qua cuộc sống hằng ngày. Dạy con cái ý thức học Phật pháp, đi chùa, lạy Phật, đọc tụng kinh Phật, nghe giảng, ăn chay kỳ, làm phước và tu đức.

  Người Phật tử làm cha mẹ không nên ngăn cản con cái nếu chúng có ý thức và muốn xuất gia, làm người tu sĩ chân chính. Trái lại, cha mẹ nên tạo mọi thuận duyên cho con cái mình thành đạt chí nguyện hướng thượng cao cả, trên cầu thành Phật, giác ngộ chúng sinh.

(trích từ: Cẩm nang của Phật tử)


Khi bắt đầu tu Phật thường hay “Đổ nghiệp”?



Tu Phật  có dễ không? Trả lời “rất khó”? Tại sao vẫn có hàng triệu người Tu  Phật thành công? Đó là có lòng kiên trì và nhẫn nại?
Để biết “Nghiệp” là gì; Nghiệp chính là   “Nghiệp Lực”  là cái gì và ở đâu, trước tiên chúng ta nên biết chữ “Nghiệp” được dịch từ chữ Phạn KARMA. Nghiệp có 3 thứ : “Nghiệp” Thiện, “Nghiệp” Ác và “Nghiệp Vô Ký” (không thiện không ác).

“Nghiệp Lực” là sức mạnh của Nghiệp, các nhà khoa học gọi đó là NĂNG LỰC (Power, Force). Sức mạnh của Nghiệp chính là động cơ khiến chúng sinh dính mắc với sinh tử Luân hồi, khó mà thoát ra khỏi Tam giới (Dục, Sắc và Vô sắc giới).

 Người ta lúc chưa tu thì không thấy gì , nhưng đến khi tu thì gặp đủ chuyện , thấy tâm mình thường hay bị dao động . Thật ra tâm chúng ta lúc nào cũng “xao động” và suy nghĩ “mông lung” nhưng lúc chưa tu tâm còn ô nhiễm nên không thấy , tới khi tu rồi thì có chút công đức ,bắt đầu có chút “Định Lực” (phân biệt cái đúng cái sai/hay ý thức việc làm đúng và sai) nên mới cảm nhận thấy dòng nghiệp thức này , nhưng vì mới tu “Định Lực” còn kém nên dễ sinh phiền não mà buông thả theo dòng nghiệp thức này tạo thêm nghiệp nữa , hay là do có một số nghiệp quá khứ phải trả để gạn lọc bớt cho tâm sạch sẽ ,vì tâm ta đã tiến bộ , những chủng tử lành trong tâm thức không chịu dung chứa những chủng tử ác , người tu đến khi nào chứng Định Diệt Thọ Tưởng mới không còn thọ nhận dòng nghiệp thức ác này.

Đó là lí do tại sao người tu muốn tiến nhanh thường muốn buông bỏ quá khứ  , tìm nơi thâm sơn cùng cốc tu hành để bảo toàn công đức đang tu.

Do đó người tu phải thường xuyên sám hối , lễ Phật cầu chư Phật hộ trì cho mình trước dòng nghiệp ác chướng này và bản thân  nên thường “khởi tâm đại bi” để buông xả bớt nhữngsuy nghĩ làm điều  ác. Người tu Niệm Phật thì phải siêng niệm Phật , thì dù nghiệp có trổ ra cũng giải hoá được rất nhiều , nghiệp thay vì phải trả 10 thì bây giờ chỉ phải trả 1 , người niệm Phật lợi thế hơn người tu thiền nhiều , vì người tu thiền phải tự lực cánh sinh , còn người tu Niệm Phật thì nhờ nhiếp tâm niệm Phật nên dễ cảm ứng được Phật lực âm thầm gia trì ?

Khi đổ nghiệp có bị tội không?
Trong kinh Tăng Chi, đức Phật dạy: "Ai nguyện nương tựa Phật, Pháp, Tăng, thì người ấy được gọi là Phật tử".  

Đi theo Phật là đi theo con đường mà Phật đã đi qua và đã giảng dạy lại cho đời. Ngài đã chứng kiếnnổi khổ của sinh, già, bịnh, chết và đã từ bỏ đời sống thế tục để tu tập và chứng ngộ sự thật của duyên khởi-vô ngã. 

Đi theo Pháp hay thực hành Pháp là thực hành Bốn Chân Lý Nhiệm Mầu tức Tứ diệu đế, thực hànhGiới, Định, Tuệ, là đi ra khỏi dục vọng hay đi vào sự ly dục để thoát khỏi khổ đau. 

Đi theo Tăng là đoàn thể sống theo tinh thần lục hòa (thân hòa đồng trú, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân, giới hòa đồng tu và kiến hòa đồng giải) và đang tích cực thực hành Pháp ly dục. 

 Khi chính thức là một Phật tử, một Phật tử đúng nghĩa, thì  phải làm những việc gì? 

Vì đạo Phật chủ yếu là tự nguyện chuyển tâm nên không có sự áp đặt và lôi kéo. Người từ đạo khác chuyển qua đạo Phật  thường là do nghiên cứu kinh sách Phật giáo, hiểu được cái tinh hoa thâm thúy của đạo Phật mà quay về đường Giác. 

Người Phật tử đúng nghĩa là người có tham dự một lễ  “thọ Tam Quy”  là Quy y Phật, Quy Y Pháp và Quy Y Tăng, gọi là “Quy Y Tam Bảo”. Quy y nghĩa là trở về và nương tựa, nhưng chúng ta trở về đâu và nương tựa cái gì? Chúng ta trở về với Phật giáo và nương tựa vào Tam Bảo, Phật, Pháp, và Tăng. Sau lễ quy y, người Phật tử được thầy truyền thọ Tam Quy đặt cho một pháp danh. Pháp danh này là biểu tượng chính thức của người Phật tử, nói lên sự chấp nhận nương tựa vào Tam Bảo về mặt tinh thần. 

Quy y như thế có nghĩa là hoan hỷ chấp nhận sự hướng dẫn của Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật Bảo là chư Phật, Pháp Bảo là giáo pháp, cụ thể là Tam Tạng Kinh Điển, Tăng Bảo là Tăng đoàn, đoàn thể của những người đã ly gia cắt ái, đang tu hành thanh tịnh, đại diện Chư Hiền Thánh Tăng cả ba thời để hướng dẫn Phật tử trên con đường đến bờ Giác. Khi quy y Tam Bảo là chúng ta quy y Chư Phật, Chư Pháp và Chư Tăng. Thật ra, Đức Phật không nói chúng ta quy y là phải quy y với Phật, mà Ngài dạy chúng ta quy y là quy y với tự tính giác của mình. Giác là Phật Bảo, Phật có nghĩa là giác ngộ, quy y Phật là quy y với bậc giác ngộ. Như thế quy y Tam Bảo chính là Quy Y Tự Tính Tam Bảo, tức là quay về tự tính giác ngộ sẵn có của chính mình: Phật tức là Giác, Pháp tức là Chính, Tăng tức là Tịnh. 

 Khi đã quy y thì người phật tử phải thực hiện “ Năm Giới” cấm của giới Phật tử tại gia, đó là: (1) không sát sinh, (2) không trộm cắp, (3) không tà dâm, (4) không nói dối, nói vu cáo, nói thêm bớt thêu dệt, nói lời xấu ác, (5) không dùng các chất say làm mê mờ trí tuệ. 

Kinh Phật nói: "Giới như đất bằng, muôn điều lành từ đó sanh. Giới như thuốc hay, chữa lành các bệnh. Giới như hòn ngọc sáng, hay phá mờ tăm tối. Giới như chiếc thuyền, hay đưa người qua biển. Giới như chuỗi anh lạc, trang nghiêm pháp thân". Cho nên việc thọ giới là điều cần thiết. Nếu nhận thấy giữ được giới nào thì “ xin quyết tâm” giữ  giới đó. Tuy nhiên, vì đạo Phật là đạo tâm, hứa giữ giới thì phải giữ lời hứa. Cũng vì thế mà nhà Phật không áp đặt các em còn nhỏ tuổi phải quy y và thọ giới, vì các em chưa đủ trí khôn để nhận thức được tầm quan trọng của lời hứa, mà người thọ Giới phải trưởng thành, đã biết suy nghĩ chín chắn, thì mới có thể giữ Giới mà không vi phạm. 

 Tại sao quy y mà nên ăn chay: Người mới học Phật không nhất thiết là phải ăn chay. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học cho biết việc ăn uống có quan hệ và ảnh hưởng đến tâm vật lý con người. Họ cho rằng ăn chay rất tốt cho sức khoẻ cả thân thể lẫn tính tình. 

Đối với đạo Phật, ăn chay có ba lợi ích. Một là nuôi dưỡng tâm từ bi. Dù là một con vật, nó cũng có cha, có mẹ như chúng ta, sao ta có thể nỡ lòng cướp đi sự sống của nó mà nuôi dưỡng sự sống cho mình. Thứ hai là tránh quả báo do không tạo nhân giết hại chúng sinh vì nhân quả đều đi theo như bóng theo hình. Thứ ba là nuôi dưỡng tâm bình đẳng. Đức Phật dạy chúng ta không những không sát hại mà còn khuyên chúng ta nên tôn trọng và bảo vệ loài vật vì chúng cũng đồng thể tánh, chúng cũng có quyền sống, có quyền được chia sẻ một phần môi sinh trên trái đất, nơi mà con người đang ở. 

Trong một buổi giảng pháp, Hoà Thượng Thích Trí Tịnh, khi được hỏi về vấn đề này đã giảng rất cụ thểrằng: “Đại chúng nên biết, nếu muốn có thịt để ăn, thì phải sát sanh. Không tự giết thì cũng bảo người giết, cho nên ăn thịt là nguyên nhơn cho sự sát hại sanh mạng của các loài vật. Tất cả các thứ thịt, không luận là thịt gì, từ thịt heo, bò cho đến tôm ốc v.v... thuộc về loài thịt của chúng sanh đều không được ăn”. 

Như vậy, người Phật tử đã quy y và thọ năm giới được khuyến khích là nên ăn chay. Nhưng nếu có gặp trở ngại trong gia đạo hay vì một hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nào đó mà không ăn chay trường được cũng nên tập ăn chay một số ngày trong tháng, rồi tăng dần khi có thể được. Thế nhưng, không được tự mình sát sinh hay là yêu cầu người khác sát sinh. 

 Như vậy khi đã phát nguyện và tự quy y mà “đổ nghiệp” có tội gì?

Là vi phạm vào “Năm giới” cấm:
        Đối với giới không sát sinh quy định, phàm ai là đệ tử của Phật thì không được giết hại mạng sống của đồng loại hay những sinh linh có sự sống. Việc giết hại có ba dạng đó là trực tiếp giết, xúi bảo người giết, tùy hỉ trong việc giết hại. Cả ba dạng trên, người Phật tử không được phạm vào. Ngoài ra giới không sát sinh không chỉ đề cao việc quí trọng mạng sống của con người, mà ngay đối với những con vật cũng cần được quí trọng mạng sống. Chính vì thế người Phật tử cũng cần giảm bớt giết hại sinh mạng của những sinh vật sống xung quanh.
Với giới không trộm cướp, người Phật tử cần hiểu trộm cắp là do lòng tham lam ác độc, chỉ nghĩ lợi cho mình mà quên nổi đau khổ của người khác. Chính vì thế nếu ai giựt lấy hay lén lấy đồ vật của người khác thì là phạm giới.
Riêng giới không tà dâm thì đức Phật quy định, người Phật tử tuyệt đối không phạm đến sự trinh bạch của kẻ khác, chỉ nên sống chung thủy một vợ một chồng.
Trong phạm vi giới này, những vị xuất gia khác với đệ tử tại gia ở chỗ không được có quan hệ tình cảm nam nữ. Vì nó chỉ làm cho thân tâm người tu không còn được thuần khiết trên con đường học đạo.
    Kế đến là giới không nói dối. Đó là nói lời trái với sự thật để mưu cầu lợi mình, hoặc hại người, sự kiện xảy ra thế này lại nói thế khác, sửa trái làm phải, đổi trắng thành đen, khiến người khác mắc họa thì những người nói thế này là phạm giới. Trừ trường hợp vì lợi người lợi vật, không nỡ nói thật để người bị hại hoặc khổ đau, do lòng nhân cứu người cứu vật nói sai sự thật thì được xem là không phạm.
Cuối cùng là giới không uống rượu. Một người nếu uống rượu vào sẽ khiến ruột gan nóng bức, tâm trí quay cuồng, mất hết bình tĩnh. Không chỉ thế, khi uống rượu vào chắc chắn không có tội lỗi nào mà họ cũng dám làm, xấu xa gì cũng không sợ, mất hết lương tri.
Bên cạnh đó, người uống rượu nhiều còn gây nên bệnh tật cho thân thể, di hại cho con cái sau này. Với những tác hại như vậy thì người phật tử sao lại uống rượu.
Có trường hợp cho phép đó là khi người phật tử mắc bệnh, bác sĩ cho phép sử dụng để điều trị thì người này được uống thuốc rượu đến khi lành bệnh thì chấm dứt, nhưng cần phải trình cho chư Tăng biết trước khi uống. Ngoài chất rượu nói trên, những chất kích thích khác nếu không cần thiết người phật tử cũng không nên uống.

Tuy nhiên, nếu người phật tử không hành trì ngũ giới thì sẽ gây ra những hậu quả, thậm chí còn bị tổn phước. Theo lời Phật dạy, hậu quả của việc sát sinh bao gồm: Thân thể bị khuyết tật hay bị dị dạng; khuôn mặt xấu xí; người xanh xao yếu ớt; đầu óc trì trệ; dễ bị hoảng sợ khi phải đối diện với hiểm nguy; bị người khác sát hại hoặc chết yểu; chịu nhiều bệnh tật; có ít bạn bè; phải xa cách người mình thương yêu.
Hậu quả của việc trộm cắp bao gồm: Trở nên nghèo khó; chịu nhiều đau khổ cả về tâm và thân; bị đói khát hành hạ; không thực hiện được các ước nguyện; cơ đồ không ổn định và dễ bị đổ bể; tài sản bị 5 kẻ thù phá huỷ, đó là lụt lội, hoả hoạn, trộm cắp, con cái thuộc hạng phá gia chi tử và chính quyền tịch thu.
Hậu quả của việc tà dâm bao gồm: Bị người khác khinh rẻ; có nhiều kẻ thù; không được giầu có thịnh vượng; hạnh phúc bị tan vỡ; bị sinh ra làm người nữ; bị sinh ra là người có giới tính lệch lạc; sinh ra là người trong gia đình hạ liệt; bị ghét bỏ; phải xa cách người mình thương yêu; chịu đau khổ về thể chất.
Hậu quả của việc nói dối bao gồm: Bị nói ngọng; răng không đều; bị hôi miệng; dáng vóc yếu ớt; chức năng mắt và tai kém; bề ngoài trông khiếm khuyết; không có ảnh hưởng đối với người khác; nói năng cộc cằn; khó định tâm.
Hậu quả của việc dùng đồ kích thích bao gồm: Kém thông minh; lười nhác; thiếu khả năng tập trung; là người vô ơn; không có tâm tàm quý (hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi); bị điên loạn; có xu hướng làm điều bất thiện.

 Ai đã nguyện Tu Phật và “ quy y” đã là  Phật tử, muốn có được đời sống an lạc, hạnh phúc, tiến bộ, chóng thành “đạo quả giác ngộ” thì phải  hết sức cẩn trọng trong việc chọn thầy, chọn bạn, chọn pháp môn tu, chớ để tánh hiếu kỳ dẫn dắt, thì mới khỏi oan uổng công phu tu tập suốt cả một đời.

(Trích trong các sách về Phật –Pháp- HCM 16/10/2018)

Phật giáo nói về Hỏa táng?



 
Phật giáo nói về Hỏa táng?
Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni Nhập Niết Bàn (ảnh Hỏa táng )

Hiện nay trên thế giới người ta đã sử dụng nhiều hình thức mai táng khác nhau. Mỗi hình thức chọn lựa cho mình khi từ giã cõi đời đều mang một triết lý nhân sinh khác nhau. Nhưng xét qua nhiều khía cạnh và ý nghĩa, tựu chung lại có 5 hình thức chính, đó là: địa táng, hoả táng, thuỷ táng, huyền táng và thứ năm là điểu táng. Thủy táng là bỏ xác chết xuống nước cho cá ăn. Điểu táng là đem xác chết lên núi cho chim ăn. Huyền táng là táng treo trên vách núi. Ở Việt Nam chỉ có địa táng và hỏa táng, không có thủy táng, huyền táng và điểu táng. Trong năm cách an táng, Hỏa Táng đang trở thành phương pháp an táng phổ thông hiện nay trên thế giới. Ở Canada, phần lớn người chết được thiêu, sau đó tro cốt được gửi trong các nhà thờ hay nhà chùa. Nếu người chết được chôn theo cả quan tài thì được chôn xuống huyệt đất. Người ta đào những cái hầm khá lớn và sâu, rồi chia ra thành từng ngăn. Mỗi ngăn cho một quan tài. Mộ không được xây thành nấm mà được san bằng để trồng cỏ lên. Trên mộ chỉ đặt một tấm bia. Còn ở Hồng Kông, việc mua đất để chôn rất đắt nên hầu hết người chết cũng được hỏa táng. Người ta gửi những bình tro cốt vào nghĩa trang, nhà chùa hoặc nhà thờ. Mỗi bình tro được khắc ghi như một tấm bia. Ở Hoa Kỳ, vào thập niên 70 thì 10 người chết mới có 1 người thiêu nhưng hiện nay ở nước Mỹ cứ 4 người chết là có một người thiêu tức là 25%. Người ta tiên đoán vào năm 2025 thì số người chết muốn thiêu sẽ lên đến 50%. Riêng ở Việt Nam, do nhu cầu bảo vệ môi sinh và dân số gia tăng nhanh chóng, chính quyền khuyến khích người dân nên chuyển sang phương thức hoả táng. Trở lại câu hỏi là Phật giáo có chủ trương hoả táng không? Chúng tôi xin thưa ngay là Phật Giáo là một tôn giáo tự do nên rất uyển chuyển trong vấn đề này. Không có luật lệ cứng rắn hay bắt buộc trong việc an táng.  Tuy nhiên tại một vài xứ Phật Giáo, việc hỏa thiêu thuờng được đa số tín đồ thi hành. Đối với Phật Giáo Ấn Độ, chết thì thiêu đó là làm theo phong tục sẵn có của Ấn Độ thời cổ chứ không phải là một sự bắt buộc gì cả và mang ý nghĩa theo triết lý của Ấn Độ nhằm nhắc nhở rằng khi chết rồi thì đừng nên luyến tiếc gì nữa, vì họ tin rằng tro cốt cuối cùng sẽ hợp nhất với lực đã khai sáng ra nó. Không riêng gì Phật Giáo mà đa số các tôn giáo bắt nguồn tại Ấn Độ như là Ấn Độ Giáo và Kỳ Na Giáo khi chết đều áp dụng phương cách Hoả Táng. Trong Phật giáo Tây Tạng cũng có tục Hoả Táng với những pháp hành đặc biệt cho nghi lễ này. Một số nước theo truyền thống Phật giáo Nam Tông như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cao Miên, Lào và một phần của Nam Việt Nam thường theo cách Hoả Táng. Ở các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông, như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam vì ảnh hưởng sâu nặng nhân sinh quan Nho Giáo và Khổng Giáo cho rằng hoả táng, điểu táng và thuỷ táng không hợp đạo lý với người qua đời nên từ trước đến nay họ thường dùng cách chôn cất hay nhập tháp. Tuy nhiên, theo quan niệm hiện đại, hỏa táng là một hình thức rất hợp vệ sinh, bảo vệ môi sinh, không mất đất, giảm bớt được nhiều vấn đề như: xây mộ, tảo mộ, bảo quản mộ, cải táng, di dời…cho nên việc hỏa táng càng ngày càng được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Phật giáo. Họ quan niệm nên dành đất cho người sống ở hơn là xây đầy những mộ chí, những nghĩa trang cho người đã nằm xuống.

Cho nên, trở lại câu hỏi nên chôn hay hoả táng, chúng tôi thiết nghĩ còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố, từ cảm quan của mỗi thành viên trong gia đình đến môi trường sống chung quanh và nhất là quan niệm cá nhân về sự sống và chết của con người. Vì thế việc chọn lựa này là do quyết định của người qua đời lúc còn sống đã để lại di chúc còn không thì người thân trong gia đình nên bàn thảo để có quyết định chung. Nói tóm lại Phật Giáo không chủ trương hoả táng cũng như địa táng. Mỗi phương cách, tuỳ thuộc từng địa phương, từng quốc độ và từng thời gian, đều có những lợi điểm và bất lợi điểm riêng, cho nên việc chọn lựa phương pháp an táng là do quyết định của gia quyến hay lời dặn dò của người sắp chết. Sau khi hoả thiêu, vấn đề được đặt ra là có nên chôn tro cốt xuống đất, gìn giữ để thờ cúng tại nhà, tại chùa hay đem rải xuống sông biển. Đức Phật không để lại một huấn thị rõ ràng về vấn đề này, vì Ngài muốn chúng ta hiểu xác thân chỉ là sự hỗn hợp của vật chất và sau khi chết, những thứ này lại trở về các nguyên tố Đất, Nước, Gió, Lửa. Phần tro cốt còn lại chỉ là biểu tượng của nguời qua đời, là người thân mà ta thuơng yêu. Chúng ta nên kính trọng, tuy nhiên, không nên quyến luyến quanh những biểu tượng này, không nên sống mãi với quá khứ của họ hay nghĩ rằng chúng ta chẳng còn liên hệ gì với người đã chết. Một số người thích thờ cúng tro cốt tại chùa hay tại nhà, một số người khác lại đem chôn, hoặc đem tro cốt rải xuống biển hay xuống sông để gieo duyên với các loài thuỷ tộc hay rải xuống rừng để gieo duyên với các loài chúng sinh sống trên đất hay một nơi nào đó theo ý muốn v..v. Gần đây nhất, theo hãng thông tấn AP cho biết công nghệ khoa học hiện đại đã biến tro cốt người quá cố thành viên kim cương để mang theo trong người. Họ đã thực hiện được 1000 viên kim cương từ 500 hũ tro cốt của 500 gia đình người quá cố. Những viên kim cương nhân tạo này đã đưa ra một lựa chọn mới cho kỹ nghệ mai táng. Giá làm kim cương tuỳ thuộc vào kích cỡ, khoảng 2.500 USD cho viên kim cương 0, 25 cara và khoảng 14.000 USD cho viên kim cương 1 cara. Đó là các phương cách để gỉai quyết phần lưu lại những gì của người quá vãng. Tuỳ theo niềm tin, áp dụng phương cách nào cũng không có gì sai cả, nhưng là Phật tử chúng ta đừng nghĩ rằng để tro cốt ở những nơi thiêng liêng như chùa chiền, người quá vãng sẽ được an toàn, được nghe câu kinh tiếng kệ và không bị nghiệp lực lôi kéo. Việc để tro cốt trong chùa không có ý nghĩa gì hơn là việc biểu lộ niềm kính trọng và thương yêu với người đã khuất. Khi thiêu có nóng không hay khi đem chôn xuống dưới đất có lạnh không? Sau khi xác thân này hư hoại, theo Phật giáo, thần thức sẽ tuỳ theo nghiệp lực mà tái sanh vào các cõi tương ứng với nghiệp nhân mà người kia đã gieo trồng, ngoại trừ các bậc đại giác như Đức Phật, các bậc Bồ-tát, các bậc A-lahán đã giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Thế giới tình thức này không chỉ có cảnh giới con người, mà còn có các cảnh giới khác nữa, nếu tính từ dưới lên thì có: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên. Theo Phật giáo Nguyên Thuỷ việc tái sinh xảy ra tức khắc chỉ trong một sát na niệm tưởng, không để trống khoảnh khắc nào trong trạng thái lưng chừng như làn sóng điện lan trong không gian, tức khắc được phát sinh trong máy thu thanh hay thu hình. Sự sinh tử này xảy ra cực kỳ nhanh chóng và được xem là một tiến trình liên tục. Còn theo Phật Giáo Bắc Tông cho rằng có một số trường hợp có thể phải qua giai đoạn chuyển tiếp, ở đó chúng sinh mang dạng “thân trung ấm” không hình tướng, lưu lại trong thời gian từ một đến bảy tuần lễ, thông thường thời gian thọ sinh là bảy ngày, tuy cũng có thể lâu hơn nữa do sở duyên chưa thích hợp. Cũng theo thuyết này, thời gian bốn mươi chín ngày này rất là quan trọng vì các nghiệp lành và nghiệp dữ dằng co tâm thức, làm mê mê tỉnh tỉnh, phải cảm thọ những điều không yên ổn, không tự tại. Vì vậy có tục lê cúng giỗ cầu siêu bảy tuần liên tiếp. Như vậy dù là tái sinh tức thời hay tái sinh qua giai đoạn chuyển tiếp, mang thân trung ấm, thì thân xác lúc ấy chỉ còn lại là một cơ thể vật chất, các giác quan không còn hoạt động, mắt không thấy, tai không nghe, mũi không ngửi, tứ chi không còn cử động, cho nên không còn cảm gíac đau đớn, nóng hay lạnh.(Theo cẩm nang cư sĩ-Tâm Diệu)