| Thả phóng sinh chim nhân ngày lễ Phật đản 2013 ở chùa Đại Giác (Huyện Chương Mĩ-Hà Nội) |
THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT
NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013
Kiếp của con người và tuổi thọ theo Phật giáo
Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013
Những người làm điều thiện nhiều chắc chắn hưởng Đại Phước
| Chùa Linh Quang đang xây dựng ở : thôn
Văn Phú, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Nhà sư trụ trì Tỳ kheo Ni Thích Vạn Linh, điện thoại: 0975.664.299 rất hoan hỉ sự đóng góp của quí Phật tử |
Ba công đức ấy, "Thập phương" nên làm" !
(nguyên văn bài trên có tên tựa “ Phước Báu”)
Sở dĩ con người có ý nghĩ như vậy là do tâm ích kỷ nhiều đời, do tập khí tham lam bỏn sẻn, do tánh ganh tị đố kỵ mà ra. Con người khi được sung sướng, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng bận tâm đoái hoài, đó là tâm ích kỷ. Con người khi được toại nguyện, muốn gì được nấy, thì mặc kệ người khác ra sao, thậm chí trong lòng còn chẳng muốn ai khác được như vậy, đó là tập khí tham lam bỏn sẻn. Con người khi được thành công thắng lợi, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng muốn ai khác bằng mình hay hơn mình, đó là tánh ganh tị đố kỵ vậy.
Thực ra, không có ông trời, thượng đế, hay đấng tạo hóa nào làm những chuyện bất công, thiên vị như vậy. Những "phước báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ công bằng tuyệt đối vậy. Cũng không ít người thắc mắc: Làm sao biết mình "có phước" hay không? Làm sao để tạo phước? Đồng thời chúng ta cũng cần nên biết: thế nào là phước hữu lậu và thế nào là phước vô lậu? Và khi làm phước giúp đỡ ai điều gì, mình nên nguyện như thế nào?
Trên thế gian này, nếu ngước nhìn lên chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người giàu sang hơn mình, học thức hơn mình, khỏe mạnh hơn mình, sung sướng hơn mình, đẹp đẽ hơn mình, địa vị hơn mình, quyền thế hơn mình, may mắn hơn mình, nhàn nhã hơn mình, bình yên hơn mình, thông minh hơn mình, sáng suốt hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người tu tập giác ngộ hơn mình, được an lạc và hạnh phúc hơn mình. Những người như vậy chính là những người "có phước" hơn mình. Trái lại, khi nhìn xuống chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người nghèo hèn hơn mình, dốt nát hơn mình, yếu đuối hơn mình, khổ sở hơn mình, xấu xí hơn mình, thấp kém hơn mình, cô thế hơn mình, xui xẻo hơn mình, cực khổ hơn mình, hoạn nạn hơn mình, đần độn hơn mình, tối tăm hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người không được sống an lạc và hạnh phúc như mình. Những người như vậy chính là những người "bạc phước" hơn mình.
Như vậy, rõ ràng chúng ta được gọi là "có phước", hay đang thọ hưởng "phước báo", nếu như chúng ta có đủ tay chân, mắt mũi vẹn toàn, cơm ăn áo mặc, khỏe mạnh ít đau, sống lâu trăm tuổi, tâm trí bình thường, gia đình hạnh phúc, cuộc sống tương đối đầy đủ, cuộc đời tương đối bình yên, không gặp hoạn nạn, không gặp hiểm nguy, không gặp tai biến, không gặp chiến tranh, không gặp đói khát, không gặp kẻ thù, không gặp thiên tai, hỏa hoạn động đất, bão lụt cuồng phong. Khi nào bị đau mắt, không còn nhìn thấy được gì nữa cả, chúng ta mới thấy giá trị của đôi mắt, giá trị của thị giác, mà hằng ngày chúng ta không lưu tâm. Đến khi gặp thầy gặp thuốc, được chữa lành bệnh, đôi mắt trở lại như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"! Hoặc khi nào bị bệnh bại xụi cả hai chân, không còn đi đứng được bình thường, phải dùng xe lăn. Đến khi khỏi bệnh, được bình phục như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"!
Thí dụ như trên một chuyến máy bay, một chuyến tàu thủy hay một chuyến xe lửa gặp tai nạn, hằng trăm người thương tích tử vong, những người được sống sót chính là những người "đại phước" vậy. Họ là những người theo đủ mọi tôn giáo, thuộc đủ mọi sắc dân, thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, gồm đủ mọi lứa tuổi, nhưng điểm quan trọng là: chính họ đã "tu nhơn tích phước" nhiều đời nhiều kiếp trước, mới được sống còn như vậy, chứ không phải do họ cầu nguyện van xin thánh thần thiên địa gì cả, dù là chí thành và khẩn thiết lắm, trong lúc ngộ nạn, mà được đâu! Chúng ta thử suy nghĩ: trong khi lâm nạn, người thì cầu Đức Mẹ cứu giúp, người thì cầu Bồ Tát Quán Âm cứu tai, cứu khổ, cứu nạn. Vậy, khi cả hai người cùng thoát được nạn, vị nào thực sự đã tế độ họ?
Thực sự chính "phước báo" của mỗi người đã cứu chính họ mà thôi. Người có "phước báo" nhiều hơn, thoát nạn một cách an ổn hơn. Người có "phước báo" ít hơn, thoát nạn với một chút sây sát. Người hết phước báo, không phước báo, thì đã vong mạng!
Thậm chí trong số những người tử vong trong các tai nạn, nhiều trường hợp có cả các chức sắc thuộc các tôn giáo, có cả những người đã từng đại diện thượng đế tha tội cho nhiều người khác! Còn chính họ có tội nghiệp, đến lúc phải trả, vẫn phải đền trả quả báo, nghiệp báo như mọi người khác vậy! Chúng ta đọc báo cũng thấy có những chuyến hành hương cầu nguyện của các tôn giáo, bị lật xe trên đường đi hoặc trên đường về, gặp nạn hỏa hoạn tại thánh địa, tại khu vực hành lễ, khiến cho hàng trăm người, hàng ngàn người tử vong thương tích. Điều này giúp cho chúng ta nhận định rất rõ ràng rằng: con người tạo nghiệp báo, dù vô tình hay cố ý, cho đến lúc quả báo chín muồi, lại không có phước báo che chở, thì cầu nguyện van xin cũng chẳng ích lợi gì, chẳng có hiệu quả gì.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: "Dù lên non, xuống biển, vào hang, nghiệp báo vẫn theo con người như hình với bóng, không ai có thể tránh được".
Nghĩa là nếu như con người không biết tu nhơn tích phước, chỉ lo tạo tội tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh giành giựt hằng ngày, cho đến khi quả báo thuần thục, không ai có thể tránh được, dù cho người đó là bất cứ ai trong thế gian này, không phân biệt vua quan, chức quyền hay thường dân, giàu sang hay nghèo hèn, học thức hay bình dân, nam phụ lão ấu, tín đồ hay chức sắc!
Có ông Liêm Sứ ở Hồng Châu, đến hỏi Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất: Uống rượu ăn thịt là nên hay không nên? Mã Tổ Đạo Nhất đáp: Uống rượu ăn thịt là cái "lộc" của ngài. Không uống rượu ăn thịt là cái "phước" của ngài! Có phước mới hưởng lộc. Có phước mới trường thọ. Không phước sao được hưởng lộc, sao được trường thọ? Như vậy, chúng ta đã tạm hiểu thế nào là "có phước". Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu vấn đề: trong cuộc sống hằng ngày, những phương cách nào, những pháp môn nào, những việc làm nào, những hành động nào, những lời nói nào, hay những ý nghĩ nào có thể tạo "phước báu", công năng và ích lợi của "phước báu" như thế nào?
1) Trước tiên là Bố Thí. Hạnh bố thí là nền tảng của tất cả các hạnh lành, là căn bản của việc thực hành giáo pháp, luôn luôn được đề cập đến trong Phật giáo. Bản chất của con người thế gian là luôn luôn muốn có, muốn thêm, muốn nữa, không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đang có. Cho nên, nếu được lên thiên đàng, nếu được về cõi tây phương, mà vẫn còn giữ lòng tham như vậy, gọi là "đới nghiệp vãng sanh", thì con người vẫn thấy khổ đau như hiện đời vậy thôi.
Muốn được an lạc hạnh phúc hiện đời, ngay tại thế giới ta bà này, hãy vui thích với những gì mình đang có, bởi vì mình không thể có những gì mình thích. Mong cầu nhiều, mơ ước nhiều, chỉ thêm nhiều đau khổ mà thôi. Thực là đơn giản!
Đạo Phật dạy hạnh bố thí để giúp con người dẹp lòng tham lam ham muốn, ích kỷ hẹp hòi, gồm có tham tiền tài, tham sắc đẹp, tham danh vọng, ham ăn ham uống, ham ngủ ham nghỉ. Đạo Phật dạy hạnh bố thí để đem lại an lạc và hạnh phúc cho người đời. Tại sao vậy? Bởi vì với lòng tham ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy, nói trên, con người trên thế gian phải đấu tranh, giành giựt, phải dùng mọi thủ đoạn để thỏa mãn, bất chấp sự đau khổ của kẻ khác, bất chấp sự an nguy của chính bản thân, với bất cứ giá nào, cũng phải đoạt cho bằng được sự như ý! Không được thỏa mãn, con người dễ nổi lòng sân hận, thù đời ghét người, oán trời trách đất! Hạnh bố thí giúp con người hiểu được ít nhiều sự an lành thiết thực của người và của chính mình như thế nào. Cái gì mình tiêu xài thì đã qua mất rồi. Cái gì mình đang có, chưa chắc giữ được lâu dài, nhưng chắc chắn rằng sẽ để lại, khi qua đời. Chỉ có những gì mình đã bố thí, đã cho ra, mới thực sự là "của mình", mới thực sự là "phước báu", và sẽ đến với mình qua các dạng: bình yên may mắn, tai qua nạn khỏi, cầu gì được nấy, trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Trong khi (thực hành hạnh) bố thí, chúng ta đừng nên thắc mắc: nếu mình quyên góp tiền bạc cho một người hay một tổ chức nào đó, để làm việc từ thiện, nhưng họ không làm đúng như lời họ nói, thậm chí họ còn lợi dụng lòng tốt của nhiều người để thủ lợi, làm việc sai trái, thì mình có được "phước báu" hay không? Tại sao vậy? Bởi vì khi chúng ta tự nguyện, phát tâm tùy hỷ, đóng góp tịnh tài cho một việc từ thiện, cứu người giúp đời, với tâm vị tha bất vị kỷ, vì người quên mình, vì muốn giúp người, không vì phước báu cho mình, thì chúng ta đã có "phước báu" ngay tại chỗ đó rồi, ngay từ lúc phát tâm tùy hỷ như vậy đó. Còn chuyện người đó, chùa đó, tổ chức đó, có làm đúng hay không, tội nghiệp họ tạo, quả báo họ sẽ tự nhận. Nhân nào quả nấy. Chúng ta không cần phải bận tâm!
Chúng ta cũng được hiểu thế nào là "phước điền" cao thượng nhứt, đó là những "ruộng phước" đem lại nhiều "phước báu" nhứt, khi hành động tạo phước của chúng ta hướng đến. Cũng ví như người nông dân hiểu biết đám ruộng nào phì nhiêu, trồng trọt sẽ cho năng suất cao nhứt. Phước điền cao thượng đó chính là bốn ơn nặng, hay tứ trọng ân, gồm có: ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn xã hội, ơn tam bảo. Hạnh bố thí dù là tài thí, pháp thí hay vô úy thí, đều đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, nếu như mình làm hạnh bố thí với thiện tâm, trực tâm và bồ đề tâm. Nghĩa là tạo được bao nhiêu "phước báu" do hạnh bố thí, chúng ta đều nên phát tâm "hồi hướng" cho toàn thể chúng sanh trong pháp giới đồng thọ hưởng. Có như thế, quả báo phước đức sau này, còn gọi là phước báo, mới thực sự to lớn. Tại sao vậy? Bởi vì không giữ riêng cho mình, dù là "phước báu" do chính mình tạo nên, có nghĩa là mình đã diệt được lòng tham. Khi lòng tham đã diệt được, sự giải thoát mới hoàn toàn, phước báo mới vô lượng vô biên vậy.
2) Thứ hai là Trì Giới. Trì giới là nghiêm chỉnh ăn ở theo đúng giới luật của Phật Tử, dù là cư sĩ tại gia, hay tu sĩ xuất gia. Nhờ đó, trong cuộc sống, chúng ta không làm tổn nhơn, hại vật, trong khi tạo ích lợi cho mình. Đó là cách tạo "phước báu" vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn. Thí dụ như chúng ta trì giới không nói dối, không nói lời xuyên tạc, thêm bớt, vu cáo, để buộc tội, vu oan cho kẻ khác phải chịu nhiều đau khổ, cho thỏa mãn lòng căm tức của chúng ta đối với người đó, dù cho đó là kẻ thù, hay kẻ mình không ưa cũng vậy. Thí dụ như người tu sĩ Phật giáo cố gắng giữ gìn giới hạnh trong sạch, cuộc sống thanh tịnh, chăm lo tu học, không tham gia hoạt động thế sự, không lo chuyện thế gian, không ham danh văn sĩ, thi sĩ, tiến sĩ gì gì đó với đời, thì vị tu sĩ đó đem lại biết bao nhiêu "phước báu" cho chính bản thân, cho đồng bào Phật Tử và cho đạo pháp.
Được như vậy, không cần đợi đến kiếp mai sau, mà ngay hiện tại, trên cuộc đời này, ở tại nơi đây, trong kiếp sống này, chúng ta có thể thọ hưởng "phước báu" của một nếp sống giới hạnh. Lợi ích của giới đức phát sanh ngay trong hiện tại. Hiện tại rất quan trọng đối với người biết sống trong tỉnh thức, biết quán sát nội tâm, biết giữ gìn giới hạnh. Quá khứ đã trôi qua, nhớ nhung tiếc nuối chỉ phí phạm thời giờ, chẳng những điên rồ, mà đôi khi còn tạo nghiệp xấu, vì những chuyện tức giận, thù hận đã qua. Trong khi đó, tương lai chỉ là viễn ảnh mơ hồ, không có gì cố định, không có gì chắc chắn. Người nào hẹn đến khi có tuổi rồi, mới cạo đầu vào chùa bắt đầu tu, cũng là người đang sống trong mơ, đang trong cơn mê. Tại sao vậy? Bởi vì có ai biết được chắc chắn mình sống đến bao lâu? Trong khi đó, chúng ta có thể tạo "phước báu" bằng cách tu tâm dưỡng tánh, ngay hiện tại, trong cuộc sống hằng ngày, đừng đợi đến ngày nào cả. Tu tâm dưỡng tánh được ngày nào, chúng ta hưởng "phước báu" ngay ngày đó, thì tại sao phải hẹn? Vã lại tu tâm dường tánh đâu phải là việc dành riêng cho các tu sĩ, hoặc đâu phải cạo đầu vào chùa mới gọi là tu! Các bậc tôn túc thường nhắc nhở chúng ta: "tu mau kẻo trễ" và "tu trong mọi hoàn cảnh", chính là nghĩa đó vậy.
Chẳng hạn như trước đây, chúng ta thích bàn chuyện thị phi, phải quấy, tốt xấu, thích xen vào chuyện của thiên hạ thế nhân, cho nên lắm khi gặp rắc rối, tranh cãi, đôi co, mích lòng, có khi dẫn tới chuyện kiện tụng lôi thôi. Bây giờ chúng ta hiểu được giáo lý đạo Phật, biết rằng tu tâm dưỡng tánh đem lại nhiều "phước báu" hiện đời, có thể thực hành trong mọi hoàn cảnh, chúng ta quyết tâm dừng ngay, chừa bỏ tất cả, thì cuộc sống sẽ an lạc và hạnh phúc, không còn phiền não và khổ đau nữa. Giới luật ví như hai đường sắt của một tuyến xe lửa. Chiếc xe lửa nào, chạy đúng đường sắt, sẽ chạy ngon lành, đến nơi đến chốn, bình yên vô sự. Chiếc nào mà chạy, trật khỏi đường rầy, tức nhiên lật gọng, tai nạn thê thảm. Cũng vậy, những người Phật Tử, dù tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, trì giới thanh tịnh, sẽ tu tinh tiến, kết quả rõ ràng, bớt chuyện phiền não, giảm thiểu khổ đau, chóng được niết bàn, an lạc hạnh phúc, ngay tại hiện đời.
3) Thứ ba là nhẫn nhịn. Có người quan niệm: nhịn thì nhục, cự thì đục. Họ cho rằng nếu nhịn được đằng chân, chúng sẽ lân đằng đầu, được nước lần này chúng sẽ làm tới lần sau, nhịn hoài chúng sẽ cho là mình ngu, cho là mình hèn, làm sao nhịn nổi, tại sao phải nhịn chứ? Chính quan niệm như vậy khiến cho cuộc đời luôn luôn đầy dẫy những tranh chấp, cãi vã, hơn thua, kiện tụng, đấu tranh, cho nên thường dẫn đến phiền não và khổ đau. Thực ra, chính vì con người không thể thực hành được "hạnh nhẫn nhịn" cho nên mới có quan niệm như trên. Người ta mắng mình một tiếng, mình trả một miếng, có khi nhiều hơn, thì dễ dàng quá. Người ta hành động, không tốt với mình, mình liền trả đũa, hết sức nặng nề, cho thiệt hả giận, cho thực đã nư, thì dễ dàng quá. Nhưng còn tiếp theo, sau đó thì sao? Câu chuyện như vậy, biết đến bao giờ, mới được chấm dứt, và dứt thế nào? Người ta lỡ lầm, vi phạm tội ác, mình đòi trừng phạt, cho thiệt xứng đáng, phanh thây xẻ thịt, treo cổ bắn bỏ, đày xuống địa ngục, bỏ tù rục xương, rủa xả chửi mắng, tưng bừng tơi tả, thì hãy thử nghĩ: ai ác hơn ai?
Có những người trên thế gian này xin ân xá cho kẻ phạm tội đã giết người thân của mình, bởi vì những người đó đã biết cảnh mất người thân, đau khổ như thế nào, nên không muốn gia đình phạm nhân lâm vào cảnh ngộ bi thương đó. Chúng ta đọc báo thấy thực sự có những người như vậy, nhưng rất hiếm hoi!
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Người ta mắng mình một tiếng, nếu mình nhịn được, không trả một miếng, mới thực là khó. Người ta hành động, không tốt với mình, mình không hành động, giống y như vậy, mới thực là khó. Hơn nữa, nếu người ta gặp, khó khăn hoạn nạn, mình sẵn sàng giúp, thực tâm thực tình, hết lòng hết dạ, lại càng khó hơn. Làm được như vậy, mọi chuyện bình yên, tiếp theo sau đó. Câu chuyện thù oán, chắc chắn chấm dứt, một cách êm đẹp, nhẹ nhàng dễ dàng.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Thắng vạn quân không bằng tự thắng mình.
Tự thắng mình là điều cao quí nhứt.
Nghĩa là tự kềm chế bản thân, tự kềm chế hành động, tự kềm chế ngôn ngữ, tự kềm chế ý nghĩ của chính mình, mới thực là khó. Con người thường bị tâm tham lam, tâm sân hận và tâm si mê sai khiến, điều khiển, cho nên cuộc đời mới gặp nhiều phiền não và khổ đau. Khi tâm tham khởi lên, khi tâm sân khởi lên, khi tâm si khởi lên, người nào tỉnh thức, tự kềm chế được, tự hóa giải được, thì cuộc sống sẽ an lạc hạnh phúc. Chiến thắng được tâm tham lam, sân hận, si mê của chính mình, mới thực sự gọi là "có phước", mới thực sự đem lại an lạc và hạnh phúc cho cuộc đời mình. Cho nên cổ nhân có dạy: "Một sự nhịn chín sự lành", chính là nghĩa đó vậy.
Khi chiến thắng được tâm tham chẳng hạn, không đi ăn trộm, không chôm chỉa đồ, không gạt gẫm người, con người khỏi gặp rắc rối với pháp luật. Khi chiến thắng được tâm sân chẳng hạn, không chửi mắng đánh đập, không trả thù người khác, không thưa gửi kiện tụng, không gây thêm phiền não, không tạo thêm kẻ thù, không tăng thêm nghiệp báo, không chuốc thêm oán hờn, không làm chuyện càn dỡ, con người được thoải mái bình yên. Khi chiến thắng được tâm si chẳng hạn, không mê tín dị đoan, không uống nước sông suối, chẳng có chút vệ sinh, lại cho là nước thánh, không tin chuyện huyễn hoặc, không tin thiên linh chuỗi, chẳng có căn cứ, con người được bình tĩnh, tâm trí sáng suốt. Nhờ đó, con người sẽ ăn được ngon, ngủ được yên. Sách có câu: "Ăn được ngủ được là tiên". Đó là "phước báu" do chính mình tạo nên, không do trời ban, không do cầu nguyện.
4) Thứ tư là Tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là siêng năng, cần mẫn tu tâm dưỡng tánh trong mọi hoàn cảnh, trong mọi động tác, đi, đứng, nằm, ngồi, để ngăn chận ba nghiệp, không tạo thêm tội lỗi, nghiệp báo mới. Không phải đợi đến lúc quỳ trước bàn Phật, hay đi đến chùa, hoặc dự các khóa tĩnh tâm, mới gọi là tu! Tu như vậy ít quá, một tháng mới có một khóa tu, một tuần mới đến chùa một lần, một ngày niệm hương trước bàn thờ, hay ngồi thiền, chừng một tiếng đồng hồ, 23 tiếng còn lại, tha hồ để tâm trí dong ruổi theo những ý nghĩ tạp nhạp, thương người này, ghét người khác, thị phi phải quấy, tâm trí bất định. Đến khi nghịch cảnh xảy đến, tai nạn giáng xuống, không đủ năng lực để đối phó, tâm trí của chúng ta sẽ xáo trộn, bất an, đương nhiên dẫn đến khổ đau và than trời trách đất. Sách có câu: "Mấy người lòng dạ tinh ma. Đã làm phải chịu, kêu mà ai thương", chính là nghĩa đó vậy.
Chúng ta tinh tấn làm tất cả các điều thiện, dù lớn dù nhỏ, cứu người giúp đời, làm cho cuộc sống của chính mình và của những người chung quanh, có ý nghĩa hơn, an lạc hơn và hạnh phúc hơn. Chúng ta tinh tấn diệt trừ những tạp niệm vọng tưởng, thường xúi giục chúng ta tạo thêm nghiệp báo xấu, để cho chính mình và những người chung quanh bớt lo âu, phiền muộn vì những hành động sai khiến bởi tâm tham, tâm sân và tâm si của mình. Chúng ta thử nghĩ: thực hành hạnh tinh tấn như vậy, có phải chúng ta được vô lượng vô biên "phước báu" chăng? Và nhờ hạnh tinh tấn, chúng ta không nản lòng trên đường tu tập các hạnh lành, dù gặp biết bao nhiêu nghịch cảnh trở ngại. Cho nên trong đạo Phật, hạnh tinh tấn được tượng trưng bởi Bồ Tát Đại Lực Đại Thế Chí, là vị Bồ Tát có năng lực tinh tấn lớn lao, có ý chí siêu xuất thế gian, dũng mãnh tiến bước không lui, trước mọi nghịch cảnh, trước mọi nghiệp chướng.
5) Thứ năm là Thiền Định. Thiền định nghĩa là trau giồi tâm tánh cho được tự tại, cho được bình tĩnh thản nhiên, trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường gặp những bước thăng trầm, những sóng gió của cuộc đời, chẳng hạn như lúc thịnh lúc suy, lúc được danh dự lúc bị hủy báng, lúc được khen tặng lúc bị chỉ trích, lúc được sung sướng lúc bị khổ đau. Trong kinh sách gọi đó là "bát phong", thường làm cho tâm trí của chúng ta bị bất an, chao đảo, dao động, xao xuyến, xáo trộn.
Cho nên đạo Phật dạy nhiều phương pháp để hàng phục và an trụ tâm, tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, sở thích, tâm nguyện của mỗi người, gọi là vô lượng pháp môn. Chẳng hạn như pháp môn tịnh độ dạy chúng ta tụng kinh, niệm Phật để định tâm. Khi chúng ta tụng kinh, thân ngồi ngay ngắn, nghiêm trang, miệng đọc lời Phật dạy trong kinh, tâm chú ý vào lời kinh và tiếng chuông mõ, nên không còn nghĩ ngợi linh tinh lang tang, tư tưởng không còn chạy lung tung nữa. Như vậy có nghĩa là tam nghiệp, gồm thân khẩu ý của chúng ta, đều được thanh tịnh.
Kinh sách có câu:
Tam nghiệp hằng thanh tịnh.
Đồng Phật vãng tây phương.
Nghĩa là khi ba nghiệp của chúng ta luôn luôn thanh tịnh, không còn tạo nghiệp nữa, thì "phước báu" vô lượng vô biên, chúng ta cùng chư Phật sống trong cõi tịnh độ tây phương. Hoặc khi tâm trạng bị hoang mang, lo lắng, sợ sệt, xôn xao, chúng ta dùng câu niệm Phật để định tâm, để trấn áp những tâm trạng bất an vừa kể.
Ở đây, cần biết thêm rằng không phải chúng ta tụng kinh để cho Đức Phật nghe! Cũng không phải chúng ta niệm Phật để cho Đức Phật tính sổ, coi chúng ta niệm được bao nhiêu câu, cộng được bao nhiêu chuỗi mỗi ngày! Kinh điển ghi lại lời dạy của Đức Phật cốt để hướng dẫn chúng ta tu tâm dưỡng tánh, điều trị tâm bệnh của chúng sanh, ví như toa thuốc của bác sĩ để điều trị thân bệnh, chứ không phải để đọc đi, đọc lại, tụng cho bác sĩ nghe!
Mục đích chúng ta tụng kinh, niệm Phật là để hàng phục và an trụ tâm, chuyển hóa từ kẻ phàm phu tục tử, trầm luân đau khổ, thành người trí tuệ, giác ngộ giải thoát. Hàng phục và an trụ được tâm, chúng ta mới có được cuộc sống phước báu, an lạc và hạnh phúc.
Cũng với mục đích hàng phục và an trụ được tâm, thiền tông dạy chúng ta "tứ oai nghi thiền". Nghĩa là trong bốn oai nghi, gồm có: đi, đứng, nằm, ngồi, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm được chánh niệm, không loạn tưởng, không tạp niệm, như vậy sẽ được chánh định. Cho nên mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại, không bị luồng tư tưởng lăng xăng lộn xộn đó dẫn đi. Thí dụ như khi đang ngồi chơi, bỗng dưng chúng ta nhớ tới chuyện thù oán năm xưa, tâm trí liền xao xuyến với ý nghĩ trả thù phục hận! Nếu chúng ta không thức tỉnh dừng lại ngay, thì luồng tư tưởng này sẽ tiếp tục dẫn chúng ta đi tới ý nghĩ tìm cách nào để trả thù, cho đáng đời kẻ đã hại mình, đã thưa gửi mình ra tòa, đã vu oan giá họa cho mình, đã cáo gian mình, và hậu quả là chúng ta tạo thêm nghiệp báo! Cuộc đời chắc chắn sẽ gặp nhiều khổ đau! Tây phương có câu: "Do not mess up your beautiful life!", chính là nghĩa đó vậy.
Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
Quá khứ tâm bất khả đắc.
Hiện tại tâm bất khả đắc.
Vị lai tâm bất khả đắc.
Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì. Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng giúp ích được gì. Chi bằng chúng ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không? Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Tốt nhứt chúng ta đừng tạo thêm tội nghiệp mới, thì khỏi phải lo sợ quả báo, tội báo, nghiệp báo sẽ đến!
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Nghĩa là chuyện oán thù trong quá khứ chỉ nên cởi mở, không nên kết chặt thêm. Thí dụ như trong gia đình trước kia có chuyện bất hòa, tranh chấp, chúng ta bèn bỏ nhà đi xa. Khi có dịp trở về quê hương viếng thăm, chúng ta mang theo quà cáp với tấm lòng từ bi hỷ xả, một trời thương nhớ, quên hết chuyện không vui trong quá khứ, tức nhiên mọi chuyện sẽ trở nên êm đẹp vui vẻ. Tâm trí của chúng ta sẽ an lạc hơn, cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn.
Ở đây, cần biết thêm rằng thiền tông không dạy tọa thiền như con cóc, từ giờ này sang giờ khác, chẳng hiểu mục đích để làm gì, ngoài chuyện đem khoe khắp nơi khắp chốn? Chính thiền tông dạy chúng ta ngồi thiền để "chăn trâu", để thúc liễm thân tâm, tức là dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng, với mục đích hàng phục và an trụ tâm. Hơn thế nữa, không phải chỉ có lúc ngồi thiền mới dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng mà thôi. Trong đời sống hằng ngày, lúc tiếp xúc với ngoại cảnh, lúc thấy hình sắc, lúc nghe âm thanh, lúc ngửi mùi, lúc nếm vị, lúc xúc chạm, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm trí được bình tĩnh thản nhiên, không xao xuyến, không loạn động. Nếu trong tâm "lỡ" nổi loạn, tạp niệm khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại kịp thời, thì đó chính là thiền định vậy.
Tổ Điều Ngự Giác Hoàng, tức là Hoàng Đế Trần Nhân Tôn nhường ngôi, đi tu, trở thành Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, có dạy rằng:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa là dù sống trên trần đời, muốn được vui theo đạo lý, hãy đừng chấp chặt, tùy duyên hành sự, tùy hoàn cảnh mà ứng xử. Chẳng hạn như đói đến thì ăn, mệt ngủ khò. Chẳng có gì đòi hỏi, chẳng có gì buồn lo, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì ưu phiền. Trong mỗi con người chúng ta, ai ai cũng có "của báu", đó chính là "con người chân thật" của chúng ta. Cho nên chẳng cần chạy vào chùa, hay lên non lên núi, tìm kiếm làm gì cho mất công, nhọc sức vô ích. Trong cuộc sống hiện nay, đối với các cảnh trần đời, chúng ta đừng khởi vọng tâm lăng xăng lộn xộn, thương thương ghét ghét, phải quấy thị phi, tranh đua hơn thua. Lúc đó, chính là lúc chúng ta đạt được thiền định, hiểu được và sống được với "con người chân thật" của chính mình. Đó chính là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.
6) Thứ sáu là Trí tuệ. Trí tuệ trong đạo Phật, kinh sách gọi là trí tuệ bát nhã, không phải sự hiểu biết, kiến thức, trí thức của thế gian. Ở thế gian, người trí thức là người học cao hiểu rộng, có bằng cấp các ngành, nhưng vẫn sống trong trong sanh tử luân hồi, thường gặp phiền não khổ đau. Trí tuệ trong đạo Phật là sự nhận thức sáng suốt, đưa con người đến chỗ giác ngộ và giải thoát, được an lạc và hạnh phúc. Người có trí tuệ là người có chánh kiến, nghĩa là người thấy muôn pháp, biết muôn việc "đúng như thực", không mê lầm điên đảo, không mê tín dị đoan, không nhận giả làm chân, không chấp chặt thành kiến. Chẳng hạn như khi thấy việc gì xảy đến cho mình hay cho người, chúng ta biết ngay rằng: đó là kết quả hay hậu quả của một việc hay nhiều việc đã làm trước đây. Không bao giờ tự nhiên có khói, mà không do lửa phát sanh. Không bao giờ tự nhiên có sóng, trong khi gió lặng yên. Không bao giờ tự nhiên có cái cây mọc lên, mà không có hạt giống trong đất trước đó. Nhờ đó, chúng ta không ngạc nhiên, khi có chuyện may mắn đến, cũng như không đau khổ, khi có chuyện xui xẻo xảy ra.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
Chư pháp tùng nhân duyên sanh.
Chư pháp tùng nhân duyên diệt.
Nghĩa là mọi việc muôn sự trên thế gian này, trong kinh sách gọi là chư pháp, tùy theo nhân duyên mà sanh ra, cũng tùy theo nhân duyên mà diệt đi. Không có việc gì sanh diệt mà không có nguyên nhân. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên xảy ra, tự nhiên sanh ra, tự nhiên xuất hiện. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên biến mất, tự nhiên diệt đi, tự nhiên không còn nữa. Chẳng hạn như khi thấy một tòa nhà sụp đổ, một tình bạn kết thúc, chúng ta hiểu ngay phải có nguyên nhân và cũng hiểu rằng không có chuyện gì trên đời tồn tại vĩnh viễn. Nhờ đó, chúng ta có thể giữ gìn được tâm trí bình tĩnh thản nhiên, khi mọi chuyện tang thương biến đổi xảy ra trong cuộc đời.
Không có cái gì, vật gì, việc gì do ông trời, do thượng đế sanh ra cả. Chẳng hạn như một cơn mưa do hội đủ nhân duyên mà có, chứ làm gì có ông thần mưa, ông thần gió, ông thần sấm, ông thần sét, ông thần sông, ông hà bá, như người xưa tin tưởng, khi khoa học chưa phát triển. Bây giờ con người còn có khả năng làm mưa nhân tạo, ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Tại sao thượng đế làm ra cuồng phong, bão tố, lũ lụt, động đất, để giết hại con người? Thượng đế vẫn còn nổi cơn thịnh nộ, nổi cơn sân hận, để giáng họa trừng phạt con người ngoan cố, không nghe theo, không làm theo, như vậy có khác gì những kẻ phàm phu tục tử ở trên đời này, hay nổi sân hận, khi gặp chuyện không vừa ý?
Nếu chỉ đọc giáo lý của đạo Phật và chỉ biết Phật giáo qua lý thuyết, ắt là không đủ. Không học hiểu giáo lý, không thực sự biết Phật giáo như thế nào, chỉ nhắm mắt làm theo những tập tục cổ truyền một cách máy móc, tức nhiên là sai lầm và thiếu sót nặng nề. Học mà không hành thì khác nào cái đãy sách, cái tủ sách, cái tàng kinh các. Hành mà không học hiểu, khác nào người đi trong đêm tối, không có đèn đuốc, đụng đầu lọt hố, bất cứ lúc nào! Trọng Phật tin Phật mà không nghe Pháp học Pháp, như vậy chưa phải là đệ tử chơn chánh của Đức Phật. Vì không nghe Pháp học Pháp, làm sao thực hành đúng theo lời Phật dạy được? Do đó, con người sống mãi trong vô minh, mờ mịt u tối, si mê lầm lạc, bao giờ mới giác ngộ và giải thoát được, bao giờ mới hết phiền não giảm khổ đau được?
Chư Tổ có dạy: Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là đãy sách, chính là nghĩa đó vậy.
Chúng ta cần phải phát tâm học Phật Pháp, nếu muốn có được trí tuệ "đúng như thực", còn gọi là "trí tuệ bát nhã". Đó chính là "phước báu" tối thượng. Người có trí tuệ bát nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Nghĩa là con người muốn được tự tại, muốn không sợ hãi, muốn qua mọi khổ ách, thì phải có trí tuệ bát nhã, thấy tất cả các pháp đều không thực, không tồn tại vĩnh viễn, không cố định. Cái thân ngũ uẩn của chúng ta cũng là một trong các pháp trên thế gian, cho nên cũng sẽ biến hoại sau một thời gian tại thế, không có gì đáng luyến tiếc, than thở, khổ đau. Chỉ có "con người chân thật không sanh diệt" mới là cứu kính mà thôi. Đó là những lời dạy vô cùng quí báu của Đức Phật, đó là bản đồ hướng dẫn chúng ta đạt được cuộc sống an lạc và hạnh phúc, tiến đến chỗ giải thoát và giác ngộ.
Tóm lại, trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều cơ hội, có rất nhiều cách, có rất nhiều phương pháp, để cho con người làm phước, tạo phước, kiếm phước. Dù là phước hữu lậu hay vô lậu, đều có công năng giúp con người có cuộc sống bình yên, ít đau khổ, bớt phiền não, để tiến tới chỗ giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Phước hữu lậu do những việc làm tạo sự an vui thoải mái, có ích lợi cho người, giúp đỡ người lúc gặp khó khăn về vật chất hay tinh thần. Phước hữu lậu có công năng đem lại sự may mắn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, bớt oan trái, giảm nghiệp báo. Người làm phước với ước mong được hưởng phước về sau, đó là phước hữu lậu, còn trong vòng sanh tử luân hồi.
Phước vô lậu do những việc làm có ích lợi cho người, nhưng đồng thời cũng chuyển hóa được con người chính mình, thí dụ như bố thí cúng dường, tụng kinh niệm Phật, tư duy thiền quán, tu tâm dưỡng tánh. Người làm phước với tâm từ bi hỷ xả, không cầu mong được hưởng phước về sau, chỉ cố gắng tu học để tiến dần đến chỗ giác ngộ và giải thoát, đó là phước vô lậu, vượt khỏi vòng sanh tử luân hồi. Trong lúc thực hiện hành động tạo phước, không nghĩ rằng mình đang làm phước, giúp đỡ người khác vì tình thương, do lòng tốt tự nhiên, với tâm bất vụ lợi, vì người quên mình, đó là hành động tạo phước cao thượng nhứt, đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.
Phước hữu lậu ví như tiền tiết kiệm, có khả năng giúp con người giàu sang, sung sướng, may mắn, bình yên. Hưởng phước này có ngày cũng cạn, cũng dứt. Khi đó, con người sẽ phải đền trả những nghiệp báo trước kia. Chúng ta đã từng thấy các ông vua, các bà hoàng, các hoàng tử, các công chúa, các nhà giàu có trưởng giả, thế lực quyền quí, cao sang danh vọng, các lãnh tụ chính trị, các lãnh tụ tôn giáo, khi hưởng hết phước báo hữu lậu, họ phải chịu nhiều tai nạn, khổ ách, tán gia bại sản, thân bại danh liệt, thậm chí có thể mất mạng thê thảm, không chỗ chôn thân!
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
"Con người khi đang hưởng phước báo, cũng như mũi tên bắn lên không trung. Mũi tên bay lên rất nhanh, rất mạnh, cũng như con người gặp mọi sự may mắn, tốt đẹp, như ý. Đến khi phước báo hết, con người bắt đầu đền trả nghiệp báo, cũng như mũi tên hết trớn thì rơi xuống đất cũng nhanh như vậy", chính là nghĩa phước hữu lậu đó vậy.
Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy chúng ta khi làm phước, đừng mong cầu hưởng phước báo, mà nên nguyện được phước duyên, đời đời gặp Chánh Pháp, gặp thầy lành bạn tốt, giúp đỡ tu tập, cho đến ngày giác ngộ và giải thoát, mà thôi.
Điều dĩ nhiên ai ai cũng có thể hiểu được là: tất cả những hành động nào, những lời nói nào, những ý nghĩ nào, ngược lại với việc tạo "phước báu", chính là hành động, lời nói, ý nghĩ, tạo tội lỗi, tạo nghiệp báo xấu vậy! Tội lỗi là do hành động, lời nói hay ý nghĩ làm cho mình, cho người khác đau khổ trong hiện tại và vị lai, dù vô tình hay cố ý.
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi".
Con người tạo tội nghiệp từ trước, đến lúc phải đền trả quả báo, nhẹ thì bị chửi mắng, đau yếu, nặng thì gặp tai nạn, thậm chí mất mạng. Tội nghiệp do con người tạo tác, sanh ra tội báo nghiệp báo, được ví như một nắm muối. Nếu phải bị nuốt nắm muối đó, thì con người sẽ đau khổ biết là dường nào. Nhưng nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một tô nước rồi uống, thì có lẽ sẽ dễ chịu hơn một chút. Nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một lu nước rồi uống, thì chắc sẽ dễ chịu hơn một chút nữa. Nếu bỏ nắm muối đó vào trong một hồ nước lớn, rồi từ từ uống, thì chuyện sẽ không còn thành vấn đề. Tô nước, lu nước, hồ nước tượng trưng cho "phước báu", do chính chúng ta tạo được ít hay nhiều, sẽ giúp chúng ta tai qua nạn khỏi, chịu đựng được quả báo, do tội nghiệp đã tạo trước đây. Chuyện lớn sẽ hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không, chuyện khó sẽ hóa dễ. Chứ không phải chúng ta tạo tội nghiệp đầy dẫy trong cuộc đời, gây đau khổ cho không biết bao nhiêu người thân kẻ thù, dù cho nhân danh công lý lẽ phải, trả thù báo oán, gì gì đi nữa, rồi đến lúc giựt mình thức tỉnh, bèn đem tất cả tội lỗi đã tạo, giao cho Trời Phật gánh giùm, chịu tội thế cho mình, bằng cách đi chùa cúng kiến, đi nhà thờ xưng tội, "thì mà là" tất cả tội lỗi đó tiêu tan hết đâu? Con người thường có thói quen "quịt nợ", cho nên mới có ý nghĩ như vậy!
Luật nhân quả không bao giờ sai chạy, dù cho con người tu hành đắc thánh quả, vẫn phải chịu quả báo do những tội nghiệp đã gây nên, từ nhiều đời nhiều kiếp trước kia. "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi". Chúng ta nên ghi nhớ lời Đức Phật đã dạy. Đọc lịch sử, chúng ta cũng đã nhận thấy, ngay cuộc đời của Đức Phật, cũng như các vị giáo chủ khác, vẫn bị người đời gièm pha, vu khống, mạ lỵ, chửi bới, ám sát, xét xử, giam cầm, giết hại. Nếu là bậc "phước tuệ lưỡng toàn" như Đức Phật, nghĩa là phước báu và trí tuệ đầy đủ, thì mọi chuyện trở ngại trên thế gian này rồi cũng qua, cuộc đời kết thúc một cách êm đềm, bình an, tự tại. Nếu không có đủ phước báo thì, dù là bất cứ ai, cũng sẽ bị xử chết một cách thê thảm!
Khi Đức Phật còn tại thế, có người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật: Ngài có kinh điển nào đem đọc tụng, có thể giúp cho đệ tử của Ngài vãng sanh niết bàn được không? Đức Phật trả lời rõ ràng: KHÔNG! Tại sao vậy? Bởi vì con người hiền thiện, biết tu tâm dưỡng tánh khi còn sinh thời, tâm tư thanh thản, nhẹ nhàng, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh ở cõi lành. Con người hung ác, luôn luôn làm việc lợi mình hại người, bất chấp thủ đoạn, bất kể sự phiền não khổ đau của tất cả mọi người, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh vào tam đồ ác đạo, gồm có: địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh. Thí dụ như dầu nhẹ hơn nước thì nổi trên mặt nước, đá nặng hơn nước thì chìm dưới đáy nước, không nghi ngờ gì cả, không thể nào khác hơn được. Đó là chân lý công bằng tuyệt đối vậy.
Cuối cùng, vấn đề sau hết là sự khác nhau giữa "phước báu" và "phước báo". Phước báu là từ ngữ chỉ những hành động, lời nói và ý nghĩ, thiện lành quí báu, tạo phước trong hiện tại, ví như chúng ta làm việc, kiếm tiền sinh sống, có dư dả thì để dành về sau. Phước báo là từ ngữ chỉ kết quả, còn gọi là quả báo lành, quả báo phước đức, do những hành động, lời nói, hay ý nghĩ thiện lành, từ nhiều đời trước cũng như đời này, đến với chúng ta qua các dạng: thới hên, may mắn, bình yên, an ổn, đẹp đẽ, vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc, giàu sang, sung sướng, nhàn nhã, trường thọ, trong cuộc đời hiện tại, ví như tiền tiết kiệm chúng ta dành dụm được từ trước đến nay, bây giờ đem ra xử dụng khi cần thiết.
Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013
37 năm gặp lại Người tiểu đội trưởng năm xưa.
Hai bà mẹ -CCB Nguyễn Thế Vũ-Tác giả chụp với vợ, chồng anh CCB Vũ Đình Đảng (Tháng/2/2013)
Có
những cuộc gặp gỡ trong cuộc đời tưởng như đã đi qua cùng năm tháng, nhưng rồi
một ngày, trong một hoàn cảnh rất đỗi bình thường, ký ức bỗng trở về nguyên
vẹn. Những người từng cùng nhau đi qua chiến tranh, từng chia nhau từng bữa
cơm, từng giờ phút gian khổ, từng đối diện với hiểm nguy nơi chiến trường… dù
xa cách bao nhiêu năm, khi gặp lại vẫn có thể nhận ra nhau như chưa từng có một
khoảng thời gian dài đằng đẵng ở giữa.
Đối với người lính, tình đồng đội có
lẽ là một trong những thứ tình cảm đặc biệt nhất. Nó được hình thành trong
những năm tháng gian lao, được thử thách giữa bom đạn và những cuộc hành quân,
rồi theo mỗi người đi suốt cả cuộc đời. Chiến tranh có thể lùi xa, những đơn vị
cũ có thể thay đổi, người lính năm xưa có thể trở về với cuộc sống đời thường,
nhưng ký ức về những người đã từng sát cánh bên mình thì khó có thể phai mờ.
Tôi cũng có một người đồng đội như
thế.
Đó là anh Vũ Đình Đảng – người
Tiểu đội trưởng của tôi năm xưa.
Ngày tôi ra Bắc, nhằm ngày 2/4/1976,
anh Đảng đang đi công tác đột xuất cùng Tư lệnh Sư đoàn ở Rạch Giá. Khi ấy, anh
là Tiểu đội trưởng Tiểu đội trinh sát, thuộc Trung đội 3 – Đại đội 2 – Tiểu
đoàn 23-11, trực thuộc Sư đoàn 4 Hậu Giang, Quân khu 9. (Tiểu đoàn 23-11
nay hợp thành Lữ đoàn 6-QK9)
Anh đi Rạch Giá để cùng đơn vị chuẩn
bị kế hoạch bắn biển, bởi lúc đó có thông tin Pôn Pốt sử dụng tàu thuyền xâm
phạm lãnh hải nước ta.
Miền Nam đã hòa bình, đất nước vừa
thống nhất, tưởng như chiến tranh đã thực sự khép lại. Nhưng đối với những
người lính chúng tôi lúc ấy, tiếng súng vẫn chưa hoàn toàn im tiếng. Ở vùng biên
giới phía Tây Nam của Tổ quốc, tình hình ngày càng căng thẳng. Một cuộc chiến
mới đang dần hiện ra.
Những
ngày biên giới Tây Nam nóng bỏng
Cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam
do Khmer Đỏ, đứng đầu là Pôn Pốt – Iêng Xari, chính thức phát động, với sự hậu
thuẫn của thế lực bên ngoài, đã nổ ra.
Những hành động khiêu khích ban đầu
diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
Ngày 5/5/1975, Khmer Đỏ đưa
quân lên chiếm đảo Thổ Chu. Sau khi chiếm đảo, chúng bắt đi gần 600 người dân
và sát hại một số dân thường. Đồng thời, chúng chiếm đảo Poulowai và dùng tàu
thuyền thăm dò khu vực phía Bắc đảo Phú Quốc, Nam Du.
Ngày 7/5/1975, lực lượng ta
tại đảo Phú Quốc đã buộc địch phải rút khỏi phía Bắc đảo.
Ngày 25/5/1975, Quân khu 9 sử
dụng hai tiểu đoàn của Trung đoàn 195 cùng một phần lực lượng được Bộ Quốc
phòng tăng cường, gồm Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 101, không quân và hải quân,
tiến công giải phóng đảo Thổ Chu.
Sau nhiều ngày bao vây, đến ngày 30/5,
các tàu chiến của ta đổ bộ lên Thổ Chu, tiến công tiêu diệt một tiểu đoàn địch,
diệt khoảng 200 tên, bắt sống 315 tên. Quân ta giành lại quyền kiểm soát và làm
chủ hòn đảo.
Sau đó, Quân khu 9 có ý định tiếp
tục thu hồi quần đảo Cô Tang. Bộ Quốc phòng đồng thời triển khai lực lượng bảo
vệ toàn bộ tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia.
Trong hoàn cảnh ấy, những người lính
vừa bước ra khỏi cuộc chiến chống Mỹ lại một lần nữa phải chuẩn bị cho một cuộc
chiến đấu mới.
Người
Tiểu đội trưởng năm xưa
Nhận lệnh của Đại đội trưởng C2 Nguyễn
Hạnh Phúc, Tiểu đội trinh sát do anh Vũ Đình Đảng làm tổ trưởng cùng một số
anh em được giao nhiệm vụ đi điều nghiên bắn biển tại khu vực bờ biển Rạch Giá
và Kiên Giang.
Thời gian ấy, Khmer Đỏ liên tục cho
tàu thuyền xâm nhập vào vùng biển phía cực Nam của Tổ quốc để quấy phá. Vì vậy,
nhiệm vụ của những người lính trinh sát không chỉ là công việc chuyên môn đơn
thuần, mà còn gắn trực tiếp với yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ chủ quyền
biển đảo của đất nước.
Còn tại căn cứ “Thiết giáp Chi
Lăng”, thuộc vùng Bảy Núi, huyện biên giới Tịnh Biên, tỉnh An Giang, đơn vị
vừa huấn luyện, vừa duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao.
Nhiều năm sau, khi gặp lại, anh Đảng
kể cho tôi nghe về những ngày tháng ấy:
Sau khi tôi ra quân, đơn vị tiếp tục
đón thêm lớp quân mới, chủ yếu là anh em miền Nam. Bộ đội vừa huấn luyện vừa sẵn
sàng chiến đấu.
Lúc này, đơn vị đã được trang bị
tương đối chính quy và hiện đại. Đó là một tiểu đoàn pháo binh với nhiều khẩu
pháo 105 ly, thêm cả pháo 155 ly, được xe GMC kéo. Nhưng trang bị hiện đại là
một chuyện, còn trình độ kỹ chiến thuật và khả năng tác chiến của bộ đội lại là
chuyện khác.
Do yêu cầu nhiệm vụ, cấp trên tuyển
chọn một số cán bộ từ cấp tiểu đội cùng một số anh em quân cũ đã từng kinh qua
chiến đấu để đào tạo thành sĩ quan chỉ huy.
Anh Vũ Đình Đảng là một trong những
người được lựa chọn.
Tháng 8/1976, anh ra Đà Lạt học sĩ
quan.
Như vậy, anh xa đơn vị sau tôi
khoảng sáu tháng.
Tôi không biết khi ấy anh có nghĩ
rằng con đường binh nghiệp của mình còn kéo dài đến đâu không. Có lẽ chẳng ai
biết trước được tương lai. Những người lính chúng tôi khi ấy chỉ biết rằng đất
nước còn cần thì mình còn đi.
Từ
người Tiểu đội trưởng đến người Tiểu đoàn trưởng
Học xong lớp sĩ quan pháo binh, anh
được điều về công tác tại Quân đoàn 1.
Nhưng lịch sử đất nước lúc đó lại
một lần nữa đặt người lính trước những thử thách mới.
Chiến tranh bảo vệ biên giới phía
Bắc nổ ra và ngày càng ác liệt. Anh được điều động lên tuyến phòng thủ phía Bắc
với quân hàm Đại úy, Tiểu đoàn trưởng.
Từ một người Tiểu đội trưởng của
Tiểu đội trinh sát năm nào, anh đã trưởng thành qua quá trình chiến đấu, học
tập và rèn luyện để trở thành người chỉ huy một tiểu đoàn.
Ở mặt trận phía Bắc, anh đã có mặt
tại hầu hết các tỉnh biên giới.
Có lẽ con đường của người lính là
như vậy. Họ không tự chọn nơi chiến đấu cho mình. Đất nước cần ở đâu, họ có mặt
ở đó. Hết chiến trường này đến chiến trường khác, hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ
khác.
Năm 1987, anh chuyển ngành,
sau đó về nghỉ hưu.
Một đời quân ngũ của anh khép lại.
Nhưng những ký ức về những năm tháng
chiến đấu chắc chắn không bao giờ có thể khép lại hoàn toàn.
Trở
về quê hương
Khi về nghỉ hưu, anh trở lại quê nhà
ở thôn Tướng Loát, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Anh tâm sự rằng cuộc sống ở nơi cũ
khá chật chội. Ngôi nhà chỉ rộng vài chục mét vuông, lại nằm giữa làng. Ruộng
đồng thì xa, trong khi sức khỏe sau nhiều năm quân ngũ cũng đã yếu đi.
Trong khi đó, quê hương Yên Trị nằm
ở phía Nam huyện Ý Yên, một vùng đất gắn với đồng ruộng, sông nước và những
làng quê lâu đời của đồng bằng sông Hồng.
Yên Trị có nhiều thôn xóm như Tướng
Loát, Hạc Bổng, Xóm Giữa, Xóm Giáo, Xóm Bến, Xóm Trong, Trại Trong, Ngọc Trấn,
Vĩnh Trị và Trại Bến.
Đó là vùng đất được hình thành từ
sớm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng. Ý Yên vốn là một vùng quê giàu
truyền thống văn hóa, với nhiều làng nghề nổi tiếng qua nhiều thế hệ như đúc
đồng Tống Xá, mộc La Xuyên, sơn mài Cát Đằng.
Sự tài hoa của người dân Ý Yên còn
được kết tinh trong nhiều công trình văn hóa, tín ngưỡng như đình Ruối, đình
Cát Đằng, đình La Xuyên.
Quê hương ấy cũng lưu giữ một kho
tàng văn hóa dân gian phong phú. Làng chèo cổ Yên Nhân với những làn điệu được
cất lên từ vùng quê “đồng trắng, nước trong”, ca ngợi quê hương, tình làng
nghĩa xóm, đã góp phần tạo nên đời sống tinh thần bền bỉ của cộng đồng.
Ý Yên cũng là vùng đất nổi tiếng về
truyền thống học hành, khoa bảng, quê hương của nhiều tiến sĩ, Hoàng giáp, Phó
bảng, trong đó có những tên tuổi tiêu biểu như tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh.
Thế nhưng, phía sau những truyền
thống đáng tự hào ấy, cuộc sống của người dân ở quê anh khi đó vẫn chủ yếu dựa
vào nông nghiệp. Đời sống chỉ vừa đủ ăn và xã vẫn còn nghèo.
Vì thế, khi xã có chủ trương di dân
ra vùng đất ven sông Đáy để làm kinh tế gia đình, anh đã xung phong trở thành
một trong những người đi tiên phong.
Nơi ở mới ngày nay có tên là “Trại
Tướng” – có thể hiểu là nơi những người dân thôn Tướng Loát ra lập trang
trại, xây dựng cuộc sống mới.
Từ một người lính từng đi qua nhiều
chiến trường, anh trở về làm một người nông dân bình dị giữa quê hương.
37
năm và một cuộc gặp lại
Sau khi liên lạc được với anh, tôi
cùng Nguyễn Thế Vũ đã tìm về nhà anh.
Tôi đưa mẹ tôi đi cùng.
Tính từ ngày 2/4/1976 đến
ngày chúng tôi gặp lại nhau, đã tròn 37 năm.
Ba mươi bảy năm!
Một khoảng thời gian đủ dài để một
thế hệ trưởng thành, đủ dài để mái tóc xanh ngày nào bạc đi, đủ dài để những
chiến trường năm xưa trở thành ký ức.
Nhưng khi gặp lại anh – người Tiểu
đội trưởng năm xưa, người lính “Cụ Hồ” từng cùng tôi đi qua những năm tháng
chiến tranh – tôi vẫn cảm nhận được sự thân thuộc như ngày nào.
Có những tình đồng đội thật kỳ lạ.
Không cần nói quá nhiều.
Không cần phải nhắc lại hết những
chuyện đã qua.
Chỉ cần nhìn thấy nhau là những ký
ức cũ đã tự nhiên trở về.
Ngôi nhà của anh hôm nay nằm trên
khu đất hơn 1.000m² ven dòng sông Đáy hiền hòa.
Mái nhà cấp bốn, hiên Tây mái chảy
khoảng 50m². Hai cái ao nuôi cá rộng khoảng 500m². Anh có tám sào ruộng nước,
mỗi năm làm hai vụ, thu hoạch khoảng 3,5 tấn lúa.
Không phải một cuộc sống giàu có.
Nhưng đó là một cuộc sống đủ ăn,
bình yên và hạnh phúc.
Gia đình anh có một người vợ, hai
người con, nay các con đã có dâu, có rể, có cháu nội, cháu ngoại.
Anh cười hiền.
Một nụ cười rất đỗi bình dị của một
người đã đi qua quá nhiều gian khó.
Hai bà mẹ chiến sĩ
Có lẽ điều xúc động nhất trong cuộc gặp hôm ấy không chỉ là chuyện chúng tôi – những người lính năm xưa – được gặp lại nhau.
Anh Đảng đã đón mẹ anh ra nhà.
Và thế là hai bà mẹ chiến sĩ năm
nào gặp nhau.
Hai người mẹ ngồi trò chuyện, nhắc
lại cái thời xa xưa ấy.
Có những câu chuyện có lẽ chỉ những
người đã từng sống trong thời chiến mới hiểu.
Có những nỗi lo của người mẹ có con
ra trận không dễ gì diễn tả bằng lời.
Ngày ấy, các mẹ tiễn con đi mà chẳng
biết ngày nào con trở về.
Các mẹ chỉ biết gửi vào người con
một niềm tin.
Còn những người lính như chúng tôi
ra đi, nhiều khi cũng chẳng dám nghĩ quá xa. Chỉ biết đất nước còn chiến tranh
thì mình phải đi.
“Đâu còn giặc là ta còn đi chiến
đấu.”
Đó không chỉ là một câu nói.
Đó là tâm thế của cả một thế hệ.
Một thế hệ đã dành những năm tháng
đẹp nhất của tuổi trẻ cho đất nước.
Và hôm nay, khi chiến tranh đã lùi
xa, các mẹ có thể ngồi bên nhau, nhìn những đứa con của mình đã trưởng thành,
đã trở về, đã hoàn thành nghĩa vụ của một người thanh niên đối với Tổ quốc.
Niềm vui vì thế mà nhân lên.
Lời
hẹn năm xưa đã thành sự thật
Chúng tôi cùng nhau trò chuyện, nhắc
lại những ngày gian khó.
Chiến tranh đã lùi xa.
Những chiến trường tận miền Tây Nam
Bộ giờ đây chỉ còn lại trong ký ức.
Vậy mà nhân duyên thật kỳ lạ.
Ngày ấy, chúng tôi sống với nhau nơi
chiến trận ở tận miền Tây Nam Bộ.
Hôm nay, chúng tôi lại gặp nhau giữa
vùng châu thổ sông Hồng.
Hai vùng đất cách nhau hàng nghìn
cây số, nhưng tình đồng đội lại nối liền tất cả.
Tôi nhớ lại lời hẹn từ những năm đất
nước còn “chia đôi”:
Bao giờ hết giặc, ai có điều kiện
thì tìm về gặp nhau nhé!
Lời hẹn ấy tưởng như đơn giản.
Nhưng để thực hiện được lại phải đi
qua biết bao năm tháng.
Cuối cùng, sau 37 năm, lời hẹn năm
xưa đã trở thành sự thật.
Còn gì vui hơn niềm vui của những
người lính khi được gặp lại nhau?
Có lẽ đó là một trong những niềm vui
giản dị mà sâu sắc nhất của cuộc đời.
Con
đường quê hôm nay
Đất nước hòa bình.
Về quê anh bây giờ đã dễ dàng hơn
rất nhiều. Những con đường nhựa thẳng tắp nối các vùng quê lại với nhau.
Từ Hà Nội đi Phủ Lý, theo đường 21B,
vào đường Chợ Viềng – Phủ Dầy, qua ngã ba Cát Đằng, qua xã Yên Tiến, xã Yên
Đồng rồi đến xã Yên Trị. Sau đó hỏi đường về “Trại Tướng” là có thể tìm được
nhà anh.
Khoảng cách chỉ chừng 110 km, đường
đi tuy còn nhỏ hẹp nhưng đã thuận tiện hơn rất nhiều so với những năm tháng
chiến tranh.
Ngày trước, chúng tôi hành quân bằng
những con đường của chiến trận.
Hôm nay, chúng tôi tìm về nhau bằng
những con đường của hòa bình.
Đó có lẽ cũng là sự thay đổi lớn lao
nhất mà thế hệ chúng tôi may mắn được chứng kiến.
Lời
kết
Ba mươi bảy năm sau ngày chia tay,
người Tiểu đội trưởng năm xưa vẫn ở đó – chỉ khác rằng mái tóc đã bạc, cuộc đời
quân ngũ đã khép lại và anh đã trở về với ruộng đồng, ao cá, gia đình và quê
hương.
Nhưng trong ánh mắt, trong nụ cười
và trong những câu chuyện kể, hình bóng người lính năm xưa dường như vẫn còn
nguyên vẹn.
Tôi nghĩ, có những người chúng ta
gặp trong đời chỉ một lần rồi quên. Nhưng cũng có những người, dù xa cách hàng
chục năm, khi gặp lại vẫn thấy gần gũi như chưa từng chia xa.
Bởi họ đã cùng ta đi qua một phần
của tuổi trẻ.
Cùng ta chịu đựng gian khổ.
Cùng ta đứng giữa những thời khắc mà
sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau một khoảnh khắc.
Và có lẽ chính những năm tháng ấy đã
tạo nên một sợi dây tình cảm mà thời gian không thể xóa nhòa.
Chiến tranh đã lùi xa.
Những người lính năm xưa nay đã trở
về với cuộc sống đời thường.
Người làm ruộng, người xây dựng gia
đình, người về hưu, người đã đi xa… Mỗi người một số phận, một con đường.
Nhưng khi ngồi lại bên nhau, chúng
tôi vẫn là những người lính của ngày nào.
Vẫn có thể gọi nhau bằng những cái
tên thân thuộc.
Vẫn có thể kể cho nhau nghe những
câu chuyện cũ.
Vẫn có thể cùng cười, cùng lặng đi
khi nhớ về những người đồng đội đã không còn trở về.
Và trên hết, chúng tôi có thể tự hào
rằng mình đã từng có một tuổi trẻ như thế – một tuổi trẻ đã sống, đã chiến đấu
và đã cống hiến cho Tổ quốc.
Cuộc gặp mặt ba người cựu chiến binh
D23-11 tháng 2/2013 vì thế không chỉ đơn giản là một cuộc hội ngộ.
Đó là cuộc trở về của ký ức.
Là cuộc trở về của tình đồng đội.
Là cuộc trở về với một phần tuổi trẻ
đã gửi lại nơi chiến trường.
Và cũng là minh chứng rằng:
Có những lời hẹn dù phải mất 37 năm
mới thực hiện được, nhưng nếu trong lòng còn nhớ, thì ngày gặp lại vẫn luôn là
một ngày đẹp.
(Ngô Lê Lợi
(Tháng 2/2013 – Ngày gặp mặt 3 người cựu chiến binh D23-11)