ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

Phát triển giao thông ở huyện Hoàng Su Phì,những năm cuối thế kỷ hai mươi đầu thế kỉ 21.

 

Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng-Lãnh đạo Tỉnh Hà Giang  chụp ảnh với  Ban TV, BCH Đảng bộ Hoàng Su Phì

     Lời đầu: Bài hồi ký kể lại quá trình xây dựng và phát triển hệ thống giao thông ở huyện Hoàng Su Phì từ những năm 1980 đến đầu những năm 2000. Trong điều kiện địa hình hiểm trở, chiến tranh biên giới và đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện đã đoàn kết, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để mở các tuyến đường dân sinh, sau đó phát triển thành đường ô tô nối trung tâm huyện với các xã. Những con đường mới không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân mà còn củng cố quốc phòng, bảo vệ biên giới. Bài hồi ký thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn đối với những người đã góp công sức xây dựng quê hương Hoàng Su Phì ngày càng phát triển.

Tác giả 

Phần 1. Những năm tháng gian khó và thực trạng giao thông Hoàng Su Phì

        Nhìn lại chặng đường phát triển giao thông của huyện Hoàng Su Phì vào những năm cuối thế kỷ XX, tôi vẫn nhớ như in những tháng ngày đầy gian khó nhưng cũng vô cùng đáng tự hào. Đó là giai đoạn cả nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, trong khi đồng bào các dân tộc Hoàng Su Phì vẫn ngày đêm cùng lực lượng vũ trang bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.



Khi ấy, Hoàng Su Phì là một huyện vùng cao biên giới thuộc tỉnh Hà Tuyên (nay thuộc tỉnh Hà Giang), có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng và an ninh. Phía Bắc huyện có hơn 34 km đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc; phía Đông giáp Vị Xuyên, phía Tây giáp Xín Mần và phía Nam giáp Bắc Quang. Địa hình chủ yếu là núi cao, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi, khe suối và vực sâu. Hai đỉnh núi nổi tiếng là Tây Côn Lĩnh cao 2.419 m và Chiêu Lầu Thi cao 2.402 m quanh năm mây phủ, tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ nhưng cũng khiến việc đi lại vô cùng gian nan.

Những năm đầu thập niên 1980, huyện có tới 27 xã nhưng chưa có thị trấn. Dân cư sống phân tán trên các triền núi, nhiều nơi thường xuyên xảy ra sạt lở mỗi khi mưa lớn. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt khiến việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, gặp muôn vàn khó khăn.

Thời điểm đó, toàn huyện chỉ có duy nhất tuyến tỉnh lộ 177 nối từ Bắc Quang qua trung tâm huyện rồi đi Xín Mần với chiều dài khoảng 59 km. Đây là con đường huyết mạch nhưng mặt đường chỉ là đường đất, có hàng chục con đèo cao, hàng trăm khúc cua gấp và chỉ thuận lợi đi lại vào mùa khô. Mỗi khi mùa mưa đến, nhiều đoạn bị sạt lở hoặc lầy lội khiến xe cộ gần như không thể lưu thông.

Ngoài tuyến đường chính ấy, Hoàng Su Phì chỉ có một tuyến ô tô ngắn từ Km17 vào xã Thông Nguyên, phục vụ việc vận chuyển chè của xưởng chè nổi tiếng khi bấy giờ. Phần lớn các xã còn lại chỉ được kết nối bằng những con đường dân sinh nhỏ hẹp hoặc đường ngựa thồ men theo sườn núi. Toàn huyện có hơn 300 km đường mòn và chỉ vài cây cầu treo, cầu gỗ đơn sơ bắc qua các con suối.

Trong những năm chiến tranh biên giới, giao thông không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân mà còn là tuyến hậu cần quan trọng để vận chuyển lương thực, vũ khí và nhu yếu phẩm cho các đơn vị bộ đội làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương. Hằng năm, huyện huy động từ 15.000 đến 20.000 ngày công của nhân dân để sửa chữa đường sá. Hơn một nghìn con ngựa thồ của các xã ngày đêm vận chuyển hàng hóa vượt núi băng rừng, góp phần bảo đảm hậu cần cho lực lượng chiến đấu nơi tuyến đầu.

Những con đường đất gập ghềnh, những chiếc cầu gỗ chênh vênh và những đoàn dân công, đoàn ngựa thồ nối dài trên sườn núi đã trở thành hình ảnh quen thuộc của Hoàng Su Phì trong suốt một thời kỳ gian khó. Chính từ thực tiễn ấy, Đảng bộ và chính quyền huyện nhận thấy muốn phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và giữ vững biên cương thì trước hết phải mở đường. Đó cũng là tiền đề cho những quyết sách quan trọng về phát triển giao thông của huyện trong những năm tiếp theo.

Phần 2. Khởi đầu phong trào mở đường – Điểm sáng từ xã Tiên Nguyên

        Bước sang đầu những năm 1991 (Huyên Hoàng Su Phì chính thức hòa bình từ tháng 11/1991), khi tình hình an ninh biên giới dần ổn định hơn, huyện Hoàng Su Phì đứng trước yêu cầu cấp thiết phải phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Muốn làm được điều đó, giao thông phải đi trước một bước. Những con đường mòn chỉ đủ cho người đi bộ và ngựa thồ không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Tháng 3 năm 1991, Đại hội Đảng bộ huyện Hoàng Su Phì lần thứ XV đã dành nhiều thời gian thảo luận về vấn đề giao thông. Đây là lần đầu tiên huyện xác định phát triển giao thông là nhiệm vụ trọng tâm, vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh.

Tại Đại hội, Tôi vinh dự được trình bày Chiến lược phát triển giao thông giai đoạn 1991–1995 và những năm tiếp theo. Trên cơ sở khảo sát thực tế, Tôi mạnh dạn đề xuất với Ban chấp hành Đẩng bộ huyện Hoàng Su Phì  mô hình “Nhà nước và Nhân dân cùng làm, trong đó nhân dân là lực lượng chủ yếu”. Theo phương án này, Nhà nước hỗ trợ vật liệu nổ, dụng cụ lao động và một phần kinh phí; còn Nhân dân trực tiếp góp công, góp sức mở đường.

Đề xuất ấy đã nhận được sự đồng tình của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và đặc biệt là sự ủng hộ của đồng chí Vương Phát Hữu, Bí thư Huyện ủy. Sau nhiều cuộc thảo luận, Đại hội thống nhất chọn xã Tiên Nguyên làm địa phương đầu tiên để triển khai thí điểm.

Việc lựa chọn Tiên Nguyên không phải là ngẫu nhiên. Đây là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện, cách trung tâm hơn 50 km. Đồng bào chủ yếu là người Dao, đời sống còn rất nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao, giao tiếp bằng tiếng phổ thông còn hạn chế. Tuy nhiên, nơi đây lại có tiềm năng lớn về phát triển nông, lâm nghiệp, đặc biệt là cây chè và nguồn lâm sản như song, mây.

Mỗi năm, Tiên Nguyên thu hoạch hàng trăm tấn chè khô cùng nhiều sản phẩm nông nghiệp khác. Thế nhưng vì không có đường giao thông nên việc vận chuyển gần như bế tắc. Những cánh rừng song, mây có giá trị cũng không thể khai thác hiệu quả. Người dân quanh năm làm lụng vất vả nhưng cuộc sống vẫn nghèo khó.

Sau nhiều cuộc họp với cấp ủy và chính quyền địa phương, chúng tôi đi đến thống nhất: chỉ có mở đường mới tạo được bước đột phá để phát triển kinh tế và thay đổi cuộc sống của người dân. Đề xuất này nhanh chóng được Ban Thường vụ Huyện ủy và UBND huyện chấp thuận.

Một Ban chỉ đạo công trình được thành lập, Tôi được giao làm Trưởng ban. Hơn 500 hộ dân trong xã đã tích cực tham gia với tinh thần trách nhiệm rất cao. Ngày 15 tháng 9 năm 1991, công trình chính thức khởi công.

Suốt năm tháng ròng rã, giữa núi rừng hiểm trở, đồng bào các dân tộc mang cuốc, xẻng, xà beng lên công trường. Có những đoạn phải phá đá bằng thuốc nổ, có những nơi phải bám vào vách núi để mở từng mét đường. Gian khổ là vậy nhưng không ai nản chí. Mỗi người đều hiểu rằng con đường hôm nay sẽ mở ra tương lai cho chính quê hương mình.

Ngày 15 tháng 2 năm 1992, tuyến đường dân sinh dài hơn 21 km hoàn thành. Mặt đường rộng từ 2 đến 2,5 mét, đủ cho người đi bộ, ngựa thồ và xe hai bánh lưu thông thuận lợi. Đây là tuyến đường đầu tiên của huyện được xây dựng thành công theo phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”.

Thành công của công trình Tiên Nguyên không chỉ giúp người dân đi lại thuận lợi hơn mà còn khẳng định một điều rất quan trọng: khi có chủ trương đúng đắn và biết khơi dậy sức dân thì những việc tưởng chừng không thể cũng có thể trở thành hiện thực. Chính từ thành công ấy, huyện Hoàng Su Phì có thêm niềm tin để tiếp tục mở rộng phong trào làm đường trên phạm vi toàn huyện.

Phần 3. Mở đường Chiến Phố – Thàng Tín: Con đường của ý chí và khát vọng bám đất biên cương

        Thành công của tuyến đường Tiên Nguyên đã tạo nên niềm tin lớn đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Hoàng Su Phì. Mọi người đều nhận thấy rằng nếu biết phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân thì những vùng đất xa xôi, cách trở cũng có thể được nối liền bằng những con đường mới.

Ngày 16 tháng 11 năm 1992, đồng chí Vương Phát Hữu, Bí thư Huyện ủy, triệu tập cuộc họp Ban Thường vụ Huyện ủy và Thường trực UBND huyện để bàn về việc tiếp tục mở tuyến đường dân sinh từ Chiến Phố đến Thàng Tín, dài khoảng 18 km. Đây không chỉ là một công trình giao thông đơn thuần mà còn là nhiệm vụ mang ý nghĩa chính trị và quốc phòng đặc biệt.

Thời điểm đó, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vừa được bình thường hóa. Sau nhiều năm chiến tranh biên giới, việc đưa đồng bào trở về sinh sống, sản xuất tại các xã biên giới là yêu cầu cấp thiết nhằm ổn định dân cư, phát triển kinh tế và khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên, Chiến Phố và Thàng Tín vẫn chưa có đường giao thông thuận lợi, khiến việc đi lại và vận chuyển hàng hóa vô cùng khó khăn.

Được sự tin tưởng của lãnh đạo huyện, Tôi tiếp tục được giao xây dựng kế hoạch chi tiết và trực tiếp chỉ đạo công trình. Chúng tôi khảo sát kỹ địa hình, dự báo những khó khăn có thể gặp phải và xây dựng phương án huy động nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Ngày 29 tháng 11 năm 1992, UBND huyện tổ chức hội nghị với sự tham gia của đại diện 14 xã cùng các cơ quan, ban, ngành trong huyện. Hội nghị thống nhất thành lập Ban Chỉ huy công trường và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương. Mỗi xã chịu trách nhiệm huy động dân công, chuẩn bị lương thực, dụng cụ lao động và tổ chức thi công theo từng đoạn đường được giao.

Chỉ ít ngày sau, vào ngày 5 tháng 12 năm 1992, hơn 3.000 dân công đã có mặt trên công trường. Khắp các sườn núi vang lên tiếng cuốc, tiếng xẻng và tiếng khoan đá. Người già động viên con cháu, phụ nữ chuẩn bị lương thực, thanh niên hăng hái mở đường. Không khí lao động khẩn trương lan tỏa khắp vùng núi biên cương.

Sau hơn hai tháng thi công liên tục, đến cuối tháng 2 năm 1993, tuyến đường Chiến Phố – Thàng Tín chính thức hoàn thành. Con đường rộng khoảng 2 đến 3 mét, tuy chưa thể cho ô tô lưu thông nhưng đã giúp người dân đi lại, vận chuyển nông sản, vật tư và nhu yếu phẩm thuận lợi hơn rất nhiều.

Quan trọng hơn, tuyến đường đã mở ra cơ hội để đồng bào trở lại các vùng biên giới sinh sống, khai hoang sản xuất và gắn bó lâu dài với quê hương. Những bản làng vốn vắng bóng người dần đông vui trở lại. Các hoạt động kinh tế từng bước được khôi phục, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc nơi biên cương Tổ quốc.

Thành công của công trình đã gây tiếng vang trong toàn tỉnh. Mô hình "Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân là lực lượng chủ yếu" của Hoàng Su Phì được tỉnh Hà Giang đánh giá cao và lựa chọn để nhân rộng ra nhiều địa phương khác. Đó không chỉ là sự ghi nhận đối với những người trực tiếp làm đường mà còn là minh chứng cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.

Nhìn lại những ngày tháng ấy, Tôi vẫn không quên hình ảnh hàng nghìn người dân cần mẫn lao động giữa núi rừng, cùng chung một niềm tin rằng mỗi mét đường được mở hôm nay sẽ mang đến một tương lai tốt đẹp hơn cho con cháu mai sau. Chính tinh thần ấy đã tạo nên một dấu ấn đẹp trong lịch sử phát triển giao thông của huyện Hoàng Su Phì.

Phần 4. Từ những con đường dân sinh đến khát vọng mở đường ô tô

        Đến cuối năm 1993, sau khi tổng kết phong trào phát triển giao thông nông thôn, Ban Thường vụ Huyện ủy Hoàng Su Phì khẳng định mô hình "Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân là lực lượng chủ yếu" đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Hàng chục kilômét đường dân sinh được mở mới, nhiều xã vùng sâu, vùng xa lần đầu tiên có đường thuận lợi để người dân và ngựa thồ đi lại.

Những kết quả bước đầu ấy là niềm động viên rất lớn đối với toàn huyện. Tuy nhiên, qua thực tế cũng bộc lộ một hạn chế quan trọng. Các tuyến đường vừa hoàn thành chỉ rộng từ 1,5 đến 3 mét, phù hợp với người đi bộ, xe hai bánh và ngựa thồ, nhưng hoàn toàn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới. Muốn vận chuyển vật tư, máy móc, nông sản với khối lượng lớn hay đưa các dịch vụ thiết yếu đến với đồng bào thì nhất thiết phải có đường cho ô tô lưu thông.

Nhận thức rõ điều đó, Đảng bộ huyện xác định mục tiêu tiếp theo là từng bước xây dựng hệ thống đường ô tô nối trung tâm huyện với các xã. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn bởi địa hình Hoàng Su Phì hiểm trở, chi phí đầu tư lớn, trong khi ngân sách địa phương còn rất hạn hẹp.

Tháng 4 năm 1994, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV đã chính thức đưa mục tiêu phát triển đường ô tô vào nghị quyết. Hội nghị đề nghị tỉnh Hà Giang quan tâm đầu tư nguồn lực, đồng thời giao Phòng Giao thông – Xây dựng huyện xây dựng phương án ưu tiên mở các tuyến đường theo từng giai đoạn, bảo đảm vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh.

        Sau nhiều lần khảo sát, chúng tôi thống nhất lựa chọn tuyến Vinh Quang – Bản Máy là công trình ưu tiên số một. Đây là tuyến đường hướng ra khu vực biên giới, đi qua nhiều xã và có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo đảm giao thông cho Nhân dân cũng như hỗ trợ các đơn vị bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Những năm trước đó, đồng bào và cán bộ, chiến sĩ muốn đến Bản Máy phải đi bộ nhiều giờ, vượt qua những con dốc cao, suối sâu và đường rừng hiểm trở. Mùa mưa, nhiều đoạn gần như bị cô lập hoàn toàn. Vì vậy, việc mở được tuyến đường ô tô đến Bản Máy không chỉ là mong mỏi của người dân mà còn là yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển lâu dài của huyện.

Tháng 5 năm 1994, với sự hỗ trợ của Đội Khảo sát thiết kế giao thông thuộc Sở Giao thông Vận tải Hà Giang, công tác khảo sát được triển khai khẩn trương. Cán bộ kỹ thuật của tỉnh, cán bộ Phòng Giao thông – Xây dựng huyện cùng đông đảo nhân dân các xã trực tiếp băng rừng, vượt núi để đo đạc từng đoạn tuyến. Công việc vô cùng vất vả nhưng ai cũng quyết tâm hoàn thành, bởi mọi người đều hiểu rằng mỗi bước chân khảo sát hôm nay sẽ mở đường cho sự phát triển của quê hương trong tương lai.

Sau nhiều ngày làm việc liên tục, phương án tuyến đường dài hơn 30 km từ trung tâm huyện qua xã Bản Máy đến khu vực Bản Pắng đã được hoàn thiện. Hồ sơ dự án nhanh chóng được trình lên tỉnh xem xét. Với ý nghĩa đặc biệt về phát triển kinh tế và bảo vệ biên giới, chủ trương đầu tư tuyến đường đã nhận được sự đồng thuận của lãnh đạo tỉnh Hà Giang.

Đầu năm 1995, lãnh đạo huyện được mời báo cáo trực tiếp với Thường trực Tỉnh ủy về phương án thi công. Sau khi nghe trình bày, lãnh đạo tỉnh đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo của huyện và đồng ý triển khai dự án. Đó là một dấu mốc quan trọng, mở ra giai đoạn mới trong lịch sử phát triển giao thông của Hoàng Su Phì – giai đoạn xây dựng những tuyến đường ô tô đầu tiên nối các xã vùng cao với trung tâm huyện.

Phần 5. Những tuyến đường đầu tiên mở lối tương lai

Đầu năm 1995 là một dấu mốc mà đến hôm nay mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn còn nguyên cảm giác xúc động. Sau nhiều năm trăn trở, khảo sát và chuẩn bị, ước mơ mở tuyến đường ô tô đầu tiên đến các xã vùng biên của huyện Hoàng Su Phì cuối cùng cũng trở thành hiện thực.

Sau khi phương án tuyến Vinh Quang – Bản Máy được Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang chấp thuận, lãnh đạo huyện cùng Phòng Giao thông – Xây dựng khẩn trương hoàn thiện mọi điều kiện để khởi công. Đây không chỉ là một dự án giao thông thông thường mà còn là công trình mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế, quốc phòng và an ninh của huyện vùng cao biên giới.

Đầu tháng 4 năm 1995, Tôi cùng đồng chí Vương Phát Hữu – Bí thư Huyện ủy và đồng chí Phượng Quầy Phin – Chủ tịch UBND huyện được báo cáo trực tiếp với đồng chí Hoàng Thừa, Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang. Sau khi nghe trình bày toàn bộ phương án thi công, đồng chí đánh giá cao quyết tâm của huyện và nhất trí cho triển khai công trình.

Ngày 1 tháng 4 năm 1995, tiếng mìn phá đá đầu tiên vang lên giữa núi rừng Hoàng Su Phì, đánh dấu thời khắc khởi công tuyến đường Vinh Quang – Bản Máy. Đó là âm thanh mà nhiều người dân khi ấy gọi là "tiếng mở cửa tương lai". Bao năm chỉ quen với đường mòn, nay ai cũng tin rằng những chiếc ô tô rồi sẽ đến được bản làng xa xôi của mình.

Để hoàn thành công trình, huyện tiếp tục vận dụng phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", nhưng ở quy mô lớn hơn. Hàng nghìn lượt nhân dân thuộc 12 xã tham gia san nền, đào đất, vận chuyển vật liệu và mở đường. Những hạng mục khó như phá núi đá, thi công cầu, cống được giao cho Xí nghiệp Giao thông Cầu – Đường Hoàng Su Phì thực hiện. Đây cũng là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của huyện tham gia xây dựng hạ tầng giao thông, tạo nên sự phối hợp hiệu quả giữa sức dân và lực lượng chuyên nghiệp.

Không khí trên công trường lúc nào cũng sôi động. Ban ngày, tiếng cuốc, tiếng xẻng hòa cùng tiếng máy khoan, tiếng nổ mìn vang vọng khắp các sườn núi. Ban đêm, nhiều tổ công nhân vẫn tranh thủ làm việc dưới ánh đèn dầu và ánh lửa bập bùng giữa núi rừng. Ai cũng hiểu rằng công trình hoàn thành sớm một ngày thì cuộc sống của đồng bào sẽ đổi thay sớm một ngày.

Địa hình Hoàng Su Phì vô cùng hiểm trở. Có những đoạn phải khoét sâu vào vách núi dựng đứng, có nơi phải đắp nền đường men theo vực sâu hàng chục mét. Chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể xảy ra tai nạn. Thế nhưng bằng ý chí và tinh thần đoàn kết, mọi khó khăn đều lần lượt được vượt qua.

Đến cuối năm 1995, tuyến đường Vinh Quang – Bản Máy cơ bản hoàn thành và chính thức thông xe kỹ thuật. Lần đầu tiên, những chiếc ô tô có thể vượt núi đến gần các xã biên giới. Khoảnh khắc chiếc xe đầu tiên lăn bánh trên con đường mới mở đã mang lại niềm vui khó diễn tả đối với cán bộ và nhân dân trong vùng. Bao năm mơ ước, cuối cùng cũng trở thành hiện thực.

Thành công của công trình tạo nên động lực mạnh mẽ để huyện tiếp tục triển khai hàng loạt dự án giao thông khác. Chỉ trong thời gian ngắn, các tuyến Thông Nguyên – Xuân Minh, Nậm Dịch – Hồ Thầu, nâng cấp đường 18 – Thông Nguyên, Vinh Quang – Pố Lồ – Thàng Tín, Pố Lồ – Thèn Chu Phìn, Thông Nguyên – Tiên Nguyên, Nam Sơn – Nậm Khòa cùng nhiều tuyến đường khác lần lượt được khởi công.

Có thể nói, giai đoạn 1995–1996 là thời kỳ sôi động nhất trong lịch sử phát triển giao thông của Hoàng Su Phì. Trên khắp các sườn núi, đâu đâu cũng thấy hình ảnh cán bộ, kỹ sư, bộ đội và nhân dân cùng chung sức mở đường. Mỗi con đường hoàn thành không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn mở ra cơ hội phát triển mới cho từng bản làng, từng gia đình.

Nhìn lại những năm tháng ấy, Tôi càng thấm thía một điều: không có công trình nào được xây dựng hoàn toàn chỉ bằng máy móc mà chỉ tham gia hỗ trợ thi công còn dân làm là chính. Điều làm nên những con đường của Hoàng Su Phì chính là niềm tin, sự đồng lòng và ý chí vượt khó của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Chính sức mạnh ấy đã biến những điều tưởng như không thể thành hiện thực, mở lối cho sự đổi thay của cả một vùng đất.

Phần 6. Những con đường nối liền bản làng – Bước chuyển mình của Hoàng Su Phì

        Sau thành công của tuyến đường Vinh Quang – Bản Máy, phong trào mở đường giao thông ở Hoàng Su Phì bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất. Niềm tin của nhân dân ngày càng lớn, sự quan tâm đầu tư của tỉnh ngày càng rõ nét, còn đội ngũ cán bộ giao thông của huyện thì trưởng thành qua từng công trình. Khắp các xã vùng cao, tiếng cuốc, tiếng xẻng, tiếng máy nổ và tiếng cười của những người làm đường đã trở thành âm thanh quen thuộc.

Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng loạt tuyến đường ô tô lần lượt được triển khai. Từ Thông Nguyên đến Xuân Minh, từ Nậm Dịch lên Hồ Thầu, từ Vinh Quang đi Pố Lồ, Thàng Tín, Thèn Chu Phìn, rồi Thông Nguyên – Tiên Nguyên, Nam Sơn – Nậm Khòa, Vinh Quang – Bản Luốc, Vinh Quang – Đản Ván, Tân Tiến – Túng Sán… Mỗi công trình hoàn thành đều đánh dấu một bước tiến mới trong hành trình đưa ánh sáng của sự phát triển đến với đồng bào vùng cao.

Điều đáng quý nhất là ở bất cứ công trình nào cũng đều có sự đóng góp to lớn của Nhân dân. Người góp ngày công, người góp tre gỗ làm lán trại, người gùi lương thực lên công trường, người nấu cơm phục vụ dân công. Những gia đình sống gần tuyến đường còn tự nguyện nhường đất, chặt cây, di dời hàng rào để công trình được thi công thuận lợi. Không ai tính toán thiệt hơn, bởi tất cả đều hiểu rằng con đường ấy sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho chính quê hương mình.

Tôi vẫn nhớ những buổi sáng sớm, khi màn sương còn phủ kín các triền núi, từng đoàn người đã lặng lẽ lên công trường. Có cụ già tóc bạc chống gậy ra động viên con cháu. Có những thanh niên vừa cưới vợ vẫn xung phong đi mở đường. Có những người phụ nữ địu con sau lưng, tay mang cơm nước tiếp tế cho chồng. Chính những hình ảnh bình dị ấy đã tạo nên sức mạnh phi thường, giúp các công trình hoàn thành đúng tiến độ.

Không lâu sau, diện mạo của Hoàng Su Phì bắt đầu thay đổi rõ rệt. Những chiếc xe tải đầu tiên chở vật liệu xây dựng, phân bón, máy móc và hàng hóa đã có thể đến nhiều xã mà trước đây chỉ có thể đi bộ hoặc ngựa thồ. Nông sản của bà con không còn phải gùi từng bao qua núi mà được vận chuyển bằng xe xuống trung tâm huyện và các địa phương lân cận. Việc đi học của học sinh, khám chữa bệnh của người dân và công tác của cán bộ cũng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều.

Song song với việc mở các tuyến đường liên xã, huyện cũng đầu tư xây dựng hệ thống giao thông trong trung tâm huyện lỵ. Những con đường nội thị đầu tiên được hình thành, tạo điều kiện quy hoạch khu dân cư, phát triển các cơ quan hành chính, trường học, trạm y tế và các công trình công cộng. Chính từ những nền móng ấy, trung tâm huyện ngày càng phát triển và sau này chính thức trở thành thị trấn Vinh Quang, mở ra một giai đoạn phát triển mới của Hoàng Su Phì.

Đến năm 2003, điều mà trước đây nhiều người cho là không thể đã trở thành hiện thực: 100% trung tâm các xã của huyện đã có đường ô tô thông tuyến với trung tâm huyện. Đó là thành quả của biết bao năm tháng lao động bền bỉ, của sự quan tâm từ Trung ương, của tỉnh Hà Giang và trên hết là công sức, mồ hôi của hàng vạn lượt đồng bào các dân tộc trong huyện.

Mỗi lần đi trên những con đường hôm nay, Tôi lại nhớ đến những ngày đầu mở đường giữa núi rừng. Nhiều đồng chí, đồng đội từng sát cánh trên công trường năm ấy giờ đã nghỉ hưu, có người đã đi xa mãi mãi. Nhưng những con đường vẫn còn đó, nối liền bản làng, mang theo khát vọng vươn lên của biết bao thế hệ người Hoàng Su Phì. Đó không chỉ là những công trình giao thông, mà còn là biểu tượng của ý chí, lòng đoàn kết và tinh thần vượt khó của đồng bào nơi miền biên viễn.

Phần 7. Những thành quả đáng tự hào và sự ghi nhận dành cho Hoàng Su Phì

        Những con đường mới mở đã từng ngày làm thay đổi diện mạo của Hoàng Su Phì. Từ một huyện vùng cao gần như biệt lập, giao thông dần trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và củng cố quốc phòng, an ninh. Thành quả ấy không chỉ được nhân dân trong huyện ghi nhận mà còn nhận được sự quan tâm, đánh giá cao của tỉnh Hà Giang và Trung ương.

Nhờ hiệu quả rõ rệt của mô hình "Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân là lực lượng chủ yếu", Hoàng Su Phì được tỉnh lựa chọn là địa phương điển hình để phổ biến kinh nghiệm phát triển giao thông nông thôn miền núi. Nhiều đoàn cán bộ từ các huyện trong tỉnh đã đến tham quan, học tập cách tổ chức, huy động sức dân và quản lý thi công các công trình giao thông. Những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn của Hoàng Su Phì đã góp phần tạo nên phong trào mở đường rộng khắp trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

Đối với cá nhân tôi, niềm vinh dự lớn lao là được thay mặt Đảng bộ và nhân dân huyện tham luận tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XII về mô hình phát triển giao thông miền núi. Đó không chỉ là niềm tự hào của riêng Tôi mà còn là sự ghi nhận đối với công sức của hàng vạn người dân Hoàng Su Phì đã ngày đêm đổ mồ hôi trên các công trường mở đường.

Một dấu ấn đặc biệt mà tôi không bao giờ quên là vào đầu tháng 4 năm 1997, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là Phó Thủ tướng Chính phủ, đã về thăm Hoàng Su Phì. Cùng đi còn có lãnh đạo tỉnh Hà Giang. Đoàn công tác đã trực tiếp dự lễ thông tuyến các công trình giao thông trọng điểm và đến thăm công trường nơi hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đang miệt mài thi công.

Trong buổi làm việc hôm ấy, đồng chí Phó Thủ tướng đã biểu dương tinh thần đoàn kết, sáng tạo và ý chí vượt khó của Đảng bộ, chính quyền cùng nhân dân các dân tộc Hoàng Su Phì. Những lời động viên ấy là nguồn cổ vũ to lớn, tiếp thêm niềm tin để chúng tôi tiếp tục hoàn thành những công trình còn dang dở.

Đến cuối những năm 1990, thành quả đạt được ngày càng rõ nét. Huyện Hoàng Su Phì cùng nhiều tập thể tiêu biểu như xã Tiên Nguyên, xã Thông Nguyên và xã Sán Sả Hồ đã được Bộ Giao thông Vận tải tặng Cờ thi đua và Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào phát triển giao thông miền núi. Đó là phần thưởng xứng đáng dành cho những địa phương đã tiên phong, dám nghĩ, dám làm và biết phát huy sức mạnh của nhân dân.

Thế nhưng, đối với chúng tôi, phần thưởng lớn nhất không phải là những lá cờ hay tấm bằng khen, mà chính là nụ cười của người dân khi xe ô tô đầu tiên về đến bản; là niềm vui của những em nhỏ không còn phải lội suối đến trường; là hình ảnh bà con đưa nông sản xuống chợ thuận lợi hơn; là những chuyến xe chở thuốc men, vật tư, phân bón và hàng hóa nối nhau vượt núi đến từng xã vùng cao.

Nhìn lại chặng đường đã đi qua, tôi càng thấm thía rằng mọi thành tựu đều bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân. Nếu không có sự đồng lòng của đồng bào các dân tộc, không có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ huyện và sự quan tâm của tỉnh, chắc chắn Hoàng Su Phì khó có thể tạo nên kỳ tích giao thông trong một thời gian ngắn như vậy.

Những con đường hôm nay không chỉ nối liền các bản làng, mà còn nối quá khứ gian khó với tương lai phát triển; nối ý chí của lớp người đi trước với khát vọng vươn lên của các thế hệ mai sau. Đó là giá trị bền vững nhất mà chúng tôi luôn trân trọng và gìn giữ.

Phần kết. Con đường của lòng dân

        Hơn ba mươi năm đã trôi qua, mỗi lần trở lại Hoàng Su Phì, đi trên những con đường nhựa uốn lượn giữa núi rừng, nhìn những cây cầu vững chãi bắc qua suối sâu, những bản làng ngày càng đông vui, trù phú, Tôi lại bồi hồi nhớ về những ngày đầu mở đường. Những tiếng cuốc, tiếng xẻng, tiếng mìn phá đá giữa đại ngàn năm nào như vẫn còn vang vọng. Bao gương mặt thân quen của những người đồng chí, đồng đội và bà con nhân dân đã cùng nhau vượt qua biết bao gian khổ để viết nên những trang sử đẹp của quê hương. Có người hôm nay vẫn còn, có người đã đi xa, nhưng những con đường họ góp công xây dựng vẫn ngày ngày phục vụ cuộc sống của bao thế hệ.

Điều quý giá nhất mà chặng đường ấy để lại không chỉ là hàng trăm kilômét đường giao thông hay những cây cầu kiên cố, mà còn là một bài học lớn về sức mạnh của lòng dân. Thực tiễn ở Hoàng Su Phì đã chứng minh rằng, ở những vùng núi cao còn nhiều khó khăn, nơi nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế, nếu biết khơi dậy tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn lên và ý thức làm chủ của nhân dân thì sẽ tạo nên nguồn lực vô cùng to lớn. Khi người dân thực sự coi con đường là của mình, công trình là của mình và sự phát triển là vì chính cuộc sống của mình, thì không có núi cao nào không thể vượt qua, không có vách đá nào không thể mở lối.

Phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân là chủ thể" không chỉ là một giải pháp huy động nguồn lực, mà còn là một tư duy phát triển bền vững. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ cơ chế, kỹ thuật và đầu tư; còn nhân dân là người trực tiếp tham gia, gìn giữ và hưởng thành quả. Chính sự đồng thuận ấy đã biến những công trình giao thông thành tài sản chung của cộng đồng, được trân trọng, bảo vệ và phát huy hiệu quả lâu dài.

Ngày nay, điều kiện phát triển đã khác trước rất nhiều, nhưng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị. Muốn xây dựng vùng cao phát triển nhanh và bền vững thì không thể chỉ trông chờ vào nguồn vốn đầu tư, mà cần tiếp tục phát huy nội lực của mỗi địa phương, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, ý chí vượt khó và khát vọng vươn lên của đồng bào các dân tộc. Đó chính là nền tảng vững chắc để xây dựng hạ tầng, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Tôi tin rằng, những con đường của hôm nay sẽ tiếp tục mở ra những chân trời mới cho Hoàng Su Phì. Và câu chuyện về những ngày đồng bào các dân tộc cùng nhau mở đường bằng mồ hôi, ý chí và niềm tin sẽ mãi là niềm tự hào của quê hương, là bài học quý cho các thế hệ mai sau trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Nhìn lại chặng đường ấy, tôi luôn coi mình là một người may mắn được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hoàng Su Phì tin tưởng giao nhiều trọng trách trong lĩnh vực giao thông. Với cương vị Trưởng phòng Giao thông – Xây dựng huyện, tôi trực tiếp tham mưu xây dựng chiến lược phát triển giao thông giai đoạn 1991–1995 và những năm tiếp theo; đề xuất mô hình "Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân là chủ thể", đồng thời trực tiếp chỉ đạo khảo sát, thiết kế và tổ chức thực hiện nhiều công trình giao thông trọng điểm của huyện.

Tôi cũng vinh dự được thay mặt Đảng bộ huyện trình bày tham luận về mô hình phát triển giao thông miền núi tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang; được cùng các đồng chí lãnh đạo huyện báo cáo phương án phát triển giao thông với lãnh đạo Tỉnh ủy và Trung ương. Những thành quả đạt được của Hoàng Su Phì trong giai đoạn ấy là niềm tự hào lớn đối với cá nhân tôi, nhưng trên hết đó là thành quả của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự đồng lòng của nhân dân và sự cống hiến của biết bao cán bộ, kỹ sư, chiến sĩ và người lao động đã ngày đêm bám công trường mở đường.

Nếu trong chặng đường ấy, tôi có chút đóng góp nào đáng ghi nhận, thì đó cũng chỉ là một viên gạch nhỏ trong nền móng chung mà nhiều thế hệ đã cùng nhau xây dựng vì sự phát triển của quê hương Hoàng Su Phì.

Điều làm tôi mãn nguyện nhất không phải là những phần thưởng hay sự ghi nhận dành cho cá nhân, mà là mỗi lần trở lại Hoàng Su Phì, được chứng kiến  đổi thay từng ngày. Những công trình điện, đường, trường, trạm, trụ sở …được đầu tư xây dựng khang trang; những con đường đất năm xưa nay đã được trải nhựa, mở rộng và nâng cấp; xe cộ đi lại nhộn nhịp, trẻ em đến trường thuận lợi, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ngày càng ấm no, hạnh phúc. Mỗi đổi thay ấy đều gợi cho tôi nhớ về biết bao tháng năm gian khó, khi từng mét đường được mở bằng mồ hôi, ý chí và khát vọng vươn lên của cả một cộng đồng.

Đối với tôi, đó chính là phần thưởng lớn nhất sau một chặng đường dài cống hiến. Là một người cán bộ Đảng viên, một cựu chiến binh đã từng đi qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Tôi may mắn được tiếp tục cống hiến trong thời bình, dành trọn tuổi trẻ của mình gắn bó với miền biên viễn Hoàng Su Phì. Cùng với sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp, cùng đồng chí, đồng đội và đồng bào các dân tộc trong huyện, Tôi đã góp một phần trí tuệ, tâm huyết và sức lao động vào sự nghiệp mở những con đường đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển của quê hương.

Nhìn lại chặng đường đã qua, Tôi càng thấm thía rằng mọi thành quả đều bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân. Nếu không có sự đồng lòng, hy sinh và tinh thần vượt khó của hàng vạn người dân Hoàng Su Phì thì sẽ không có những tuyến đường nối liền bản làng hôm nay. Chính Nhân dân là chủ thể làm nên kỳ tích ấy; còn chúng tôi chỉ là những người được Đảng và nhân dân giao trọng trách tổ chức, dẫn dắt và cùng chung sức thực hiện.

Chiến tranh đã rèn luyện cho Tôi ý chí kiên cường để bảo vệ Tổ quốc; hòa bình cho tôi cơ hội được tiếp tục góp sức xây dựng quê hương. Được sống, được cống hiến và được chứng kiến Hoàng Su Phì hôm nay từng ngày đổi mới, phát triển, đó là niềm hạnh phúc, niềm tự hào và cũng là phần thưởng lớn lao nhất trong cuộc đời của một người cán bộ, một người lính Cụ Hồ.

        Nếu mai này có ai hỏi điều gì quý giá nhất còn đọng lại sau những năm tháng ấy, Tôi sẽ không nói về những phần thưởng hay danh hiệu, mà sẽ nói về những con đường vẫn ngày ngày nối dài giữa đại ngàn, chở theo niềm tin, khát vọng và tương lai của đồng bào các dân tộc Hoàng Su Phì. Đó chính là di sản đẹp nhất mà thế hệ chúng tôi may mắn được góp phần tạo dựng và trao lại cho các thế hệ mai sau./.

(Ngô Lê Lợi: Hà Nội,11-2011)

HUYỆN HSP XƯA và NAY 


KHẢO SÁT ĐƯỜNG BẢN MÁY

Tác giả và Bí thư H.ủy Vương Phát Hữu
Tác giả và GĐ sở GTVT HG Nguyễn Văn Thanh 

Tác giả và Đ/c Phạm Công Đam phó ban TG tỉnh ủy vào thăm CT

  




GĐ Xí nghiệp Cầu -Đường GT Hoàng Su Phì: Nguyễn Văn Ngọc


MỘT SỐ HÌNH ẢNH THÔNG XE BẢN MÁY

Đ/c Bùi Quang Chiêm đồn trưởng BP Bản Máy (Á Phải)





Chủ tịch Huyện Phượng Quầy Phin

Phó CT UBND Tỉnh Hà Giang Đỗ Trọng Quý 

Đoàn CB Tỉnh ủy-HĐND-UBND tỉnh-Các Ban ngành tỉnh dự lễ thông đường

ẢNH DỰ ĐH ĐẢNG BỘ TỈNH HG KHÓA XII

 

ẢNH CHỤP LĐ TỈNH HA GIANG 
Chủ tịch HĐND tỉnh

Phó GĐ CA tỉnh


GĐ sở Tài chính


Chủ tịch H Xín Mần


GĐ CA tỉnh 



 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét