Phần 1. Những năm tháng gian khó và thực trạng giao thông Hoàng Su Phì
Nhìn lại chặng đường phát triển giao thông của huyện Hoàng Su Phì vào những năm cuối thế kỷ XX, tôi vẫn nhớ như in những tháng ngày đầy gian khó nhưng cũng vô cùng đáng tự hào. Đó là giai đoạn cả nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, trong khi đồng bào các dân tộc Hoàng Su Phì vẫn ngày đêm cùng lực lượng vũ trang bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.
Khi ấy, Hoàng Su Phì là một huyện vùng cao biên giới thuộc tỉnh Hà Tuyên (nay thuộc tỉnh Hà Giang), có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng và an ninh. Phía Bắc huyện có hơn 34 km đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc; phía Đông giáp Vị Xuyên, phía Tây giáp Xín Mần và phía Nam giáp Bắc Quang. Địa hình chủ yếu là núi cao, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi, khe suối và vực sâu. Hai đỉnh núi nổi tiếng là Tây Côn Lĩnh cao 2.419 m và Chiêu Lầu Thi cao 2.402 m quanh năm mây phủ, tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ nhưng cũng khiến việc đi lại vô cùng gian nan.
Những năm đầu thập niên 1980, huyện
có tới 27 xã nhưng chưa có thị trấn. Dân cư sống phân tán trên các triền núi,
nhiều nơi thường xuyên xảy ra sạt lở mỗi khi mưa lớn. Điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt khiến việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, gặp muôn vàn
khó khăn.
Thời điểm đó, toàn huyện chỉ có duy
nhất tuyến tỉnh lộ 177 nối từ Bắc Quang qua trung tâm huyện rồi đi Xín Mần với
chiều dài khoảng 59 km. Đây là con đường huyết mạch nhưng mặt đường chỉ là
đường đất, có hàng chục con đèo cao, hàng trăm khúc cua gấp và chỉ thuận lợi đi
lại vào mùa khô. Mỗi khi mùa mưa đến, nhiều đoạn bị sạt lở hoặc lầy lội khiến
xe cộ gần như không thể lưu thông.
Ngoài tuyến đường chính ấy, Hoàng Su
Phì chỉ có một tuyến ô tô ngắn từ Km17 vào xã Thông Nguyên, phục vụ việc vận
chuyển chè của xưởng chè nổi tiếng khi bấy giờ. Phần lớn các xã còn lại chỉ
được kết nối bằng những con đường dân sinh nhỏ hẹp hoặc đường ngựa thồ men theo
sườn núi. Toàn huyện có hơn 300 km đường mòn và chỉ vài cây cầu treo, cầu gỗ
đơn sơ bắc qua các con suối.
Vai trò của giao thông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ biên giới huyện Hoàng Su Phì giai đoạn 1980 - 1981 và đến năm 1991.
Trong những năm diễn ra chiến tranh biên
giới, hệ thống giao thông không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại và sinh hoạt của
nhân dân mà còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm hậu cần cho
các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới. Đây là tuyến vận chuyển
chủ yếu để đưa lương thực, vũ khí, đạn dược và các nhu yếu phẩm đến các đơn vị
bộ đội đang làm nhiệm vụ tại các điểm chốt.
Trong giai đoạn 1980 - 1981, cùng với nhiệm
vụ xây dựng và bảo vệ biên giới, huyện Hoàng Su Phì đã huy động 2.400 lượt dân
công, dân quân tự vệ phối hợp với lực lượng quân sự tham gia củng cố hệ thống
phòng thủ. Kết quả, địa phương đã hoàn thành việc rào lấp 1.725 m đường biên
giới, đào 4.700 m giao thông hào, xây dựng 176 hầm tránh pháo và 340 công sự
chiến đấu.
Bên cạnh đó, huyện đã huy động hơn 12.000
lượt dân công, dân quân tự vệ tham gia mở mới 23 km đường giao thông dẫn lên
các điểm chốt và khu vực biên giới. Đồng thời, hai cầu treo bắc qua sông Chảy
tại các xã Trung Thịnh và Bản Luốc cũng được xây dựng nhằm phục vụ công tác vận
chuyển đạn dược, lương thực và thực phẩm, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng
đối phó với các hoạt động xâm lấn từ phía Trung Quốc.
Thực hiện kế hoạch của tỉnh, huyện Hoàng Su
Phì tiếp tục huy động 1.800 lượt dân công tham gia mở tuyến đường Suối Sửu
(huyện Vị Xuyên) và tuyến đường Đèo Gió (huyện Xín Mần). Việc hoàn thành các
tuyến đường này đã góp phần bảo đảm khả năng cơ động của lực lượng vũ trang,
kịp thời phục vụ nhiệm vụ bảo vệ biên giới và sẵn sàng đập tan các cuộc đột
kích của đối phương.
Hằng năm, huyện còn huy động từ 15.000 đến
20.000 ngày công của nhân dân để sửa chữa, duy tu hệ thống đường giao thông ngựa thồ.
Cùng với đó, hơn 1.000 con ngựa thồ của nhân dân các xã được huy động tham gia
vận chuyển hàng hóa, ngày đêm vượt núi, băng rừng để tiếp tế cho các đơn vị
chiến đấu nơi tuyến đầu. Những đóng góp to lớn của nhân dân đã góp phần quan
trọng vào việc bảo đảm hậu cần, củng cố thế trận quốc phòng và bảo vệ vững chắc
chủ quyền biên giới của địa phương.
Những con đường đất gập ghềnh, những
chiếc cầu gỗ chênh vênh và những đoàn dân công, đoàn ngựa thồ nối dài trên sườn
núi đã trở thành hình ảnh quen thuộc của Hoàng Su Phì trong suốt một thời kỳ
gian khó. Chính từ thực tiễn ấy, Đảng bộ và chính quyền huyện nhận thấy muốn
phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và giữ vững biên cương thì trước
hết phải mở đường. Đó cũng là tiền đề cho những quyết sách quan trọng về phát
triển giao thông của huyện trong những năm tiếp theo.
Phần 2. Khởi đầu phong trào mở đường – Điểm sáng từ xã
Tiên Nguyên
Bước
sang đầu những năm 1991 (Huyên Hoàng Su Phì chính
thức hòa bình từ tháng 10/1991), khi
tình hình an ninh biên giới dần ổn định hơn, huyện Hoàng Su Phì đứng trước yêu
cầu cấp thiết phải phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Muốn làm
được điều đó, giao thông phải đi trước một bước. Những con đường mòn chỉ đủ cho
người đi bộ và ngựa thồ không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển trong giai
đoạn mới.
Tháng 3 năm 1991, Đại hội Đảng bộ
huyện Hoàng Su Phì lần thứ XV đã dành nhiều thời gian thảo luận về vấn đề giao
thông. Đây là lần đầu tiên huyện xác định phát triển giao thông là nhiệm vụ
trọng tâm, vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an
ninh.
Tại Đại hội, Tôi vinh dự được trình
bày Chiến lược phát triển giao thông giai đoạn 1991–1995 và những năm tiếp
theo. Trên cơ sở khảo sát thực tế, Tôi mạnh dạn đề xuất với Ban chấp hành Đẩng
bộ huyện Hoàng Su Phì mô hình “Nhà
nước và Nhân dân cùng làm, trong đó nhân dân là lực lượng chủ yếu”. Theo
phương án này, Nhà nước hỗ trợ vật liệu nổ, dụng cụ lao động và một phần kinh
phí; còn Nhân dân trực tiếp góp công, góp sức mở đường.
Đề xuất ấy đã nhận được sự đồng tình
của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và đặc biệt là sự ủng hộ của đồng chí Vương Phát Hữu, Bí thư Huyện ủy. Sau nhiều cuộc
thảo luận, Đại hội thống nhất chọn xã Tiên Nguyên làm địa phương đầu tiên để
triển khai thí điểm.
Việc lựa chọn Tiên Nguyên không phải
là ngẫu nhiên. Đây là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện, cách trung tâm hơn 50
km. Đồng bào chủ yếu là người Dao, đời sống còn rất nhiều khó khăn, trình độ
dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao, giao tiếp bằng tiếng phổ thông còn hạn chế. Tuy
nhiên, nơi đây lại có tiềm năng lớn về phát triển nông, lâm nghiệp, đặc biệt là
cây chè và nguồn lâm sản như song, mây.
Mỗi năm, Tiên Nguyên thu hoạch hàng trăm
tấn chè khô cùng nhiều sản phẩm nông nghiệp khác. Thế nhưng vì không có đường
giao thông nên việc vận chuyển gần như bế tắc. Những cánh rừng song, mây có giá
trị cũng không thể khai thác hiệu quả. Người dân quanh năm làm lụng vất vả
nhưng cuộc sống vẫn nghèo khó.
Sau nhiều cuộc họp với cấp ủy và
chính quyền địa phương, chúng tôi đi đến thống nhất: chỉ có mở đường mới tạo
được bước đột phá để phát triển kinh tế và thay đổi cuộc sống của người dân. Đề
xuất này nhanh chóng được Ban Thường vụ Huyện ủy và UBND huyện chấp thuận.
Một Ban chỉ đạo công trình được
thành lập, Tôi được giao làm Trưởng ban. Hơn 500 hộ dân trong xã đã tích cực
tham gia với tinh thần trách nhiệm rất cao. Ngày 15 tháng 9 năm 1991, công
trình chính thức khởi công.
Suốt năm tháng ròng rã, giữa núi
rừng hiểm trở, đồng bào các dân tộc mang cuốc, xẻng, xà beng lên công trường.
Có những đoạn phải phá đá bằng thuốc nổ, có những nơi phải bám vào vách núi để
mở từng mét đường. Gian khổ là vậy nhưng không ai nản chí. Mỗi người đều hiểu
rằng con đường hôm nay sẽ mở ra tương lai cho chính quê hương mình.
Ngày 15 tháng 2 năm 1992, tuyến
đường dân sinh dài hơn 21 km hoàn thành. Mặt đường rộng từ 2 đến 2,5 mét, đủ
cho người đi bộ, ngựa thồ và xe hai bánh lưu thông thuận lợi. Đây là tuyến
đường đầu tiên của huyện được xây dựng thành công theo phương châm “Nhà nước
và Nhân dân cùng làm”.
Thành công của công trình Tiên
Nguyên không chỉ giúp người dân đi lại thuận lợi hơn mà còn khẳng định một điều
rất quan trọng: khi có chủ trương đúng đắn và biết khơi dậy sức dân thì những
việc tưởng chừng không thể cũng có thể trở thành hiện thực. Chính từ thành công
ấy, huyện Hoàng Su Phì có thêm niềm tin để tiếp tục mở rộng phong trào làm
đường trên phạm vi toàn huyện.
Phần 3. Mở đường Chiến Phố – Thàng Tín: Con đường của
ý chí và khát vọng bám đất biên cương
Thành
công của tuyến đường Tiên Nguyên đã tạo nên niềm tin lớn đối với Đảng bộ, chính
quyền và Nhân dân huyện Hoàng Su Phì. Mọi người đều nhận thấy rằng nếu biết
phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân thì những vùng đất xa xôi, cách trở
cũng có thể được nối liền bằng những con đường mới.
Ngày 16 tháng 11 năm 1992, đồng chí
Vương Phát Hữu, Bí thư Huyện ủy, triệu tập cuộc họp Ban Thường vụ Huyện ủy và
Thường trực UBND huyện để bàn về việc tiếp tục mở tuyến đường dân sinh từ Chiến
Phố đến Thàng Tín, dài khoảng 18 km. Đây không chỉ là một công trình giao thông
đơn thuần mà còn là nhiệm vụ mang ý nghĩa chính trị và quốc phòng đặc biệt.
Thời điểm đó, quan hệ giữa Việt Nam
và Trung Quốc vừa được bình thường hóa. Sau nhiều năm chiến tranh biên giới,
việc đưa đồng bào trở về sinh sống, sản xuất tại các xã biên giới là yêu cầu
cấp thiết nhằm ổn định dân cư, phát triển kinh tế và khẳng định chủ quyền lãnh
thổ. Tuy nhiên, Chiến Phố và Thàng Tín vẫn chưa có đường giao thông thuận lợi,
khiến việc đi lại và vận chuyển hàng hóa vô cùng khó khăn.
Được sự tin tưởng của lãnh đạo
huyện, Tôi tiếp tục được giao xây dựng kế hoạch chi tiết và trực tiếp chỉ đạo
công trình. Chúng tôi khảo sát kỹ địa hình, dự báo những khó khăn có thể gặp
phải và xây dựng phương án huy động nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế của
từng địa phương.
Ngày 29 tháng 11 năm 1992, UBND
huyện tổ chức hội nghị với sự tham gia của đại diện 14 xã cùng các cơ quan,
ban, ngành trong huyện. Hội nghị thống nhất thành lập Ban Chỉ huy công trường và
phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương. Mỗi xã chịu trách nhiệm huy động
dân công, chuẩn bị lương thực, dụng cụ lao động và tổ chức thi công theo từng
đoạn đường được giao.
Chỉ ít ngày sau, vào ngày 5 tháng 12
năm 1992, hơn 3.000 dân công đã có mặt trên công trường. Khắp các sườn núi vang
lên tiếng cuốc, tiếng xẻng và tiếng khoan đá. Người già động viên con cháu, phụ
nữ chuẩn bị lương thực, thanh niên hăng hái mở đường. Không khí lao động khẩn
trương lan tỏa khắp vùng núi biên cương.
Sau hơn hai tháng thi công liên tục,
đến cuối tháng 2 năm 1993, tuyến đường Chiến Phố – Thàng Tín chính thức hoàn
thành. Con đường rộng khoảng 2 đến 3 mét, tuy chưa thể cho ô tô lưu thông nhưng
đã giúp người dân đi lại, vận chuyển nông sản, vật tư và nhu yếu phẩm thuận lợi
hơn rất nhiều.
Quan trọng hơn, tuyến đường đã mở ra
cơ hội để đồng bào trở lại các vùng biên giới sinh sống, khai hoang sản xuất và
gắn bó lâu dài với quê hương. Những bản làng vốn vắng bóng người dần đông vui
trở lại. Các hoạt động kinh tế từng bước được khôi phục, góp phần xây dựng thế
trận quốc phòng toàn dân vững chắc nơi biên cương Tổ quốc.
Thành công của công trình đã gây
tiếng vang trong toàn tỉnh. Mô hình "Nhà nước và nhân dân cùng làm,
nhân dân là lực lượng chủ yếu" của Hoàng Su Phì được tỉnh Hà Giang
đánh giá cao và lựa chọn để nhân rộng ra nhiều địa phương khác. Đó không chỉ là
sự ghi nhận đối với những người trực tiếp làm đường mà còn là minh chứng cho
sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
Nhìn lại những ngày tháng ấy, Tôi
vẫn không quên hình ảnh hàng nghìn người dân cần mẫn lao động giữa núi rừng,
cùng chung một niềm tin rằng mỗi mét đường được mở hôm nay sẽ mang đến một
tương lai tốt đẹp hơn cho con cháu mai sau. Chính tinh thần ấy đã tạo nên một
dấu ấn đẹp trong lịch sử phát triển giao thông của huyện Hoàng Su Phì.
Phần 4. Từ những con đường dân sinh đến khát vọng mở
đường ô tô
Đến
cuối năm 1993, sau khi tổng kết phong trào phát triển giao thông nông thôn, Ban
Thường vụ Huyện ủy Hoàng Su Phì khẳng định mô hình "Nhà nước và nhân
dân cùng làm, nhân dân là lực lượng chủ yếu" đã mang lại hiệu quả rõ
rệt. Hàng chục kilômét đường dân sinh được mở mới, nhiều xã vùng sâu, vùng xa
lần đầu tiên có đường thuận lợi để người dân và ngựa thồ đi lại.
Những kết quả bước đầu ấy là niềm
động viên rất lớn đối với toàn huyện. Tuy nhiên, qua thực tế cũng bộc lộ một
hạn chế quan trọng. Các tuyến đường vừa hoàn thành chỉ rộng từ 1,5 đến 3 mét,
phù hợp với người đi bộ, xe hai bánh và ngựa thồ, nhưng hoàn toàn chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới. Muốn vận chuyển vật tư,
máy móc, nông sản với khối lượng lớn hay đưa các dịch vụ thiết yếu đến với đồng
bào thì nhất thiết phải có đường cho ô tô lưu thông.
Nhận thức rõ điều đó, Đảng bộ huyện
xác định mục tiêu tiếp theo là từng bước xây dựng hệ thống đường ô tô nối trung
tâm huyện với các xã. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn bởi địa hình Hoàng
Su Phì hiểm trở, chi phí đầu tư lớn, trong khi ngân sách địa phương còn rất hạn
hẹp.
Tháng 4 năm 1994, Hội nghị giữa
nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV đã chính thức đưa mục tiêu phát triển
đường ô tô vào nghị quyết. Hội nghị đề nghị tỉnh Hà Giang quan tâm đầu tư nguồn
lực, đồng thời giao Phòng Giao thông – Xây dựng huyện xây dựng phương án ưu
tiên mở các tuyến đường theo từng giai đoạn, bảo đảm vừa phục vụ phát triển
kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Sau
nhiều lần khảo sát, chúng tôi thống nhất lựa chọn tuyến Vinh Quang – Bản Máy
là công trình ưu tiên số một. Đây là tuyến đường hướng ra khu vực biên giới, đi
qua nhiều xã và có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo đảm giao thông cho Nhân dân
cũng như hỗ trợ các đơn vị bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ.
Những năm trước đó, đồng bào và cán
bộ, chiến sĩ muốn đến Bản Máy phải đi bộ nhiều giờ, vượt qua những con dốc cao,
suối sâu và đường rừng hiểm trở. Mùa mưa, nhiều đoạn gần như bị cô lập hoàn
toàn. Vì vậy, việc mở được tuyến đường ô tô đến Bản Máy không chỉ là mong mỏi
của người dân mà còn là yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển lâu dài của
huyện.
Tháng 5 năm 1994, với sự hỗ trợ của
Đội Khảo sát thiết kế giao thông thuộc Sở Giao thông Vận tải Hà Giang, công tác
khảo sát được triển khai khẩn trương. Cán bộ kỹ thuật của tỉnh, cán bộ Phòng
Giao thông – Xây dựng huyện cùng đông đảo nhân dân các xã trực tiếp băng rừng,
vượt núi để đo đạc từng đoạn tuyến. Công việc vô cùng vất vả nhưng ai cũng
quyết tâm hoàn thành, bởi mọi người đều hiểu rằng mỗi bước chân khảo sát hôm
nay sẽ mở đường cho sự phát triển của quê hương trong tương lai.
Sau nhiều ngày làm việc liên tục,
phương án tuyến đường dài hơn 30 km từ trung tâm huyện qua xã Bản Máy đến khu
vực Bản Pắng đã được hoàn thiện. Hồ sơ dự án nhanh chóng được trình lên tỉnh
xem xét. Với ý nghĩa đặc biệt về phát triển kinh tế và bảo vệ biên giới, chủ
trương đầu tư tuyến đường đã nhận được sự đồng thuận của lãnh đạo tỉnh Hà
Giang.
Đầu năm 1995, lãnh đạo huyện được
mời báo cáo trực tiếp với Thường trực Tỉnh ủy về phương án thi công. Sau khi
nghe trình bày, lãnh đạo tỉnh đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo của huyện và
đồng ý triển khai dự án. Đó là một dấu mốc quan trọng, mở ra giai đoạn mới
trong lịch sử phát triển giao thông của Hoàng Su Phì – giai đoạn xây dựng những
tuyến đường ô tô đầu tiên nối các xã vùng cao với trung tâm huyện.
Phần 5. Những tuyến đường đầu tiên mở lối tương lai
Đầu năm 1995 là một dấu mốc mà đến
hôm nay mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn còn nguyên cảm giác xúc động. Sau nhiều năm
trăn trở, khảo sát và chuẩn bị, ước mơ mở tuyến đường ô tô đầu tiên đến các xã
vùng biên của huyện Hoàng Su Phì cuối cùng cũng trở thành hiện thực.
Sau khi phương án tuyến Vinh Quang –
Bản Máy được Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang chấp thuận, lãnh đạo huyện cùng
Phòng Giao thông – Xây dựng khẩn trương hoàn thiện mọi điều kiện để khởi công.
Đây không chỉ là một dự án giao thông thông thường mà còn là công trình mang ý
nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế, quốc phòng và an ninh của huyện
vùng cao biên giới.
Đầu tháng 4 năm 1995, Tôi cùng đồng
chí Vương Phát Hữu – Bí thư Huyện ủy và đồng chí Phượng Quầy Phin – Chủ tịch
UBND huyện được báo cáo trực tiếp với đồng chí Hoàng Thừa, Bí thư Tỉnh ủy Hà
Giang. Sau khi nghe trình bày toàn bộ phương án thi công, đồng chí đánh giá cao
quyết tâm của huyện và nhất trí cho triển khai công trình.
Ngày 1 tháng 4 năm 1995, tiếng mìn
phá đá đầu tiên vang lên giữa núi rừng Hoàng Su Phì, đánh dấu thời khắc khởi
công tuyến đường Vinh Quang – Bản Máy. Đó là âm thanh mà nhiều người dân khi ấy
gọi là "tiếng mở cửa tương lai". Bao năm chỉ quen với đường mòn, nay
ai cũng tin rằng những chiếc ô tô rồi sẽ đến được bản làng xa xôi của mình.
Để hoàn thành công trình, huyện tiếp
tục vận dụng phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm",
nhưng ở quy mô lớn hơn. Hàng nghìn lượt nhân dân thuộc 12 xã tham gia san nền,
đào đất, vận chuyển vật liệu và mở đường. Những hạng mục khó như phá núi đá,
thi công cầu, cống được giao cho Xí nghiệp Giao thông Cầu – Đường Hoàng Su Phì
thực hiện. Đây cũng là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của huyện tham gia
xây dựng hạ tầng giao thông, tạo nên sự phối hợp hiệu quả giữa sức dân và lực
lượng chuyên nghiệp.
Không khí trên công trường lúc nào
cũng sôi động. Ban ngày, tiếng cuốc, tiếng xẻng hòa cùng tiếng máy khoan, tiếng
nổ mìn vang vọng khắp các sườn núi. Ban đêm, nhiều tổ dân công của các xã vẫn tranh thủ đào đất san nền mặt đường dưới ánh đèn dầu và ánh đuốc lửa bập bùng giữa núi rừng. Ai cũng hiểu rằng
công trình hoàn thành sớm một ngày thì cuộc sống của đồng bào sẽ đổi thay sớm
một ngày.
Địa hình Hoàng Su Phì vô cùng hiểm
trở. Có những đoạn phải khoét sâu vào vách núi dựng đứng, có nơi phải đắp nền
đường men theo vực sâu hàng chục mét. Chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể xảy
ra tai nạn. Thế nhưng bằng ý chí và tinh thần đoàn kết, mọi khó khăn đều lần
lượt được vượt qua.
Đến cuối năm 1995, tuyến đường Vinh
Quang – Bản Máy cơ bản hoàn thành và chính thức thông xe kỹ thuật. Lần đầu
tiên, những chiếc ô tô có thể vượt núi đến gần các xã biên giới. Khoảnh khắc
chiếc xe đầu tiên lăn bánh trên con đường mới mở đã mang lại niềm vui khó diễn
tả đối với cán bộ và nhân dân trong vùng. Bao năm mơ ước, cuối cùng cũng trở
thành hiện thực.
Thành công của công trình tạo nên
động lực mạnh mẽ để huyện tiếp tục triển khai hàng loạt dự án giao thông khác.
Chỉ trong thời gian ngắn, các tuyến Thông Nguyên – Xuân Minh, Nậm Dịch – Hồ
Thầu, nâng cấp đường 18 – Thông Nguyên, Vinh Quang – Pố Lồ – Thàng Tín, Pố Lồ –
Thèn Chu Phìn, Thông Nguyên – Tiên Nguyên, Nam Sơn – Nậm Khòa cùng nhiều tuyến
đường khác lần lượt được khởi công.
Có thể nói, giai đoạn 1995–1996 là
thời kỳ sôi động nhất trong lịch sử phát triển giao thông của Hoàng Su Phì.
Trên khắp các sườn núi, đâu đâu cũng thấy hình ảnh cán bộ, kỹ sư, bộ đội và
nhân dân cùng chung sức mở đường. Mỗi con đường hoàn thành không chỉ rút ngắn
khoảng cách địa lý mà còn mở ra cơ hội phát triển mới cho từng bản làng, từng
gia đình.
Nhìn lại những năm tháng ấy, Tôi
càng thấm thía một điều: không có công trình nào được xây dựng hoàn toàn chỉ
bằng máy móc mà chỉ tham gia hỗ trợ thi công còn dân làm là chính. Điều làm nên
những con đường của Hoàng Su Phì chính là niềm tin, sự đồng lòng và ý chí vượt
khó của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Chính sức mạnh ấy đã biến
những điều tưởng như không thể thành hiện thực, mở lối cho sự đổi thay của cả
một vùng đất.
Phần 6. Những con đường nối liền bản làng – Bước
chuyển mình của Hoàng Su Phì
Sau thành công của tuyến đường Vinh Quang – Bản Máy, phong trào phát triển giao thông ở Hoàng Su Phì bước sang một giai đoạn mới với khí thế sôi nổi và quyết tâm cao. Thành công của những công trình đầu tiên đã củng cố niềm tin của nhân dân, đồng thời tạo động lực để chính quyền địa phương tiếp tục đầu tư, mở rộng mạng lưới giao thông trên toàn huyện. Đội ngũ cán bộ giao thông của huyện cũng ngày càng trưởng thành, tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm qua từng công trình thực tế.
Trong giai đoạn này, nhiều tuyến đường ô tô
quan trọng lần lượt được triển khai và đưa vào sử dụng, như tuyến Thông Nguyên
– Xuân Minh, Nậm Dịch – Hồ Thầu, Vinh Quang – Pố Lồ, Vinh Quang – Thàng Tín,
Vinh Quang – Thèn Chu Phìn, Thông Nguyên – Tiên Nguyên, Nam Sơn – Nậm Khòa,
Vinh Quang – Bản Luốc, Vinh Quang – Đản Ván và Tân Tiến – Túng Sán. Sự hình
thành của các tuyến đường này đã từng bước phá thế cô lập của nhiều địa phương,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu và phát triển kinh tế - xã
hội.
Một trong những yếu tố quan trọng làm nên
thành công của phong trào phát triển giao thông tại Hoàng Su Phì chính là sự
đồng lòng và tinh thần trách nhiệm của nhân dân. Hàng nghìn hộ gia đình đã tích
cực tham gia đóng góp ngày công lao động, hỗ trợ vật liệu tại chỗ, vận chuyển
lương thực và phục vụ các công trường. Nhiều hộ dân tự nguyện hiến đất, chặt bỏ
cây cối, di dời hàng rào để tạo điều kiện cho việc thi công. Tinh thần đoàn kết
và ý thức xây dựng quê hương đã trở thành nguồn sức mạnh to lớn, góp phần đẩy
nhanh tiến độ của các công trình.
Cùng với việc mở rộng hệ thống giao thông
liên xã, huyện Hoàng Su Phì cũng chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại
trung tâm huyện lỵ. Nhiều tuyến đường nội thị được xây dựng, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc quy hoạch các khu dân cư, phát triển hệ thống cơ quan hành chính,
trường học, cơ sở y tế và các công trình công cộng. Đây cũng là nền tảng quan
trọng để trung tâm huyện từng bước phát triển, trở thành thị trấn Vinh Quang
như ngày nay.
Đặc biệt, từ năm 1995 đến năm 2000, từ con số
0 nay huyện đã phát động phong trào xây
dựng đường giao thông nông thôn theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng
làm”, trong đó nhân dân giữ vai trò chủ thể, trực tiếp đóng góp công sức, còn
Nhà nước hỗ trợ vật liệu nổ phục vụ thi công. Với cách làm sáng tạo và phù hợp
với điều kiện thực tế của địa phương, phong trào đã huy động được sự tham gia
tích cực của đông đảo nhân dân, góp phần hoàn thành hơn 500 km đường dân sinh
với nhiều quy mô khác nhau, gồm các tuyến đường rộng 2,5 m, 3,5 m và 4,8 m,
vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Mô hình này được triển khai đầu tiên vào năm
1990-1991 tại xã Tiên Nguyên với tuyến đường dài 16,6 km, rộng 2,5 m. Thành
công của công trình không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và phát
triển sản xuất của người dân địa phương mà còn trở thành mô hình tiêu biểu
trong phong trào phát triển giao thông nông thôn của tỉnh Hà Giang. Đây cũng là
mô hình đầu tiên trên địa bàn tỉnh được Bộ Giao thông Vận tải biểu dương và
trao tặng danh hiệu điển hình tiên tiến trong phát triển giao thông nông thôn.
Bên cạnh những thành tựu về giao thông, huyện
cũng hoàn thành công tác quy hoạch xây dựng đối với 25 xã và thị trấn, tạo cơ
sở quan trọng cho việc phát triển hạ tầng đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Đến năm 2003, một dấu mốc quan trọng đã được
thiết lập khi 100% trung tâm các xã trên địa bàn huyện đã có đường ô tô thông
tuyến với trung tâm huyện và có tuyến đã đi được cả 4 mùa. Thành quả ấy là kết
tinh của nhiều năm lao động bền bỉ, sự quan tâm của Trung ương, của tỉnh Hà
Giang và đặc biệt là sự đóng góp to lớn của hàng vạn lượt đồng bào các dân tộc
trên địa bàn.
Những con đường hôm nay không chỉ đơn thuần
là các công trình giao thông mà còn là biểu tượng của ý chí, tinh thần đoàn kết
và khát vọng vươn lên của đồng bào Hoàng Su Phì. Mỗi tuyến đường được mở ra đã
góp phần kết nối bản làng, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của
nhân dân và mở ra những cơ hội mới cho các thế hệ mai sau.
Phần 7. Những thành quả đáng tự hào và sự ghi nhận dành cho Hoàng Su Phì
Những
con đường mới mở đã từng ngày làm thay đổi diện mạo của Hoàng Su Phì. Từ một
huyện vùng cao gần như biệt lập, giao thông dần trở thành động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và củng cố quốc phòng, an ninh. Thành quả
ấy không chỉ được nhân dân trong huyện ghi nhận mà còn nhận được sự quan tâm,
đánh giá cao của tỉnh Hà Giang và Trung ương.
Nhờ hiệu quả rõ rệt của mô hình "Nhà
nước và nhân dân cùng làm, nhân dân là lực lượng chủ yếu", Hoàng Su
Phì được tỉnh lựa chọn là địa phương điển hình để phổ biến kinh nghiệm phát
triển giao thông nông thôn miền núi. Nhiều đoàn cán bộ từ các huyện trong tỉnh
đã đến tham quan, học tập cách tổ chức, huy động sức dân và quản lý thi công
các công trình giao thông. Những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn của
Hoàng Su Phì đã góp phần tạo nên phong trào mở đường rộng khắp trên địa bàn
tỉnh Hà Giang.
Đối với cá nhân tôi, niềm vinh dự
lớn lao là được thay mặt Đảng bộ và nhân dân huyện tham luận tại Đại hội Đảng
bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XII về mô hình phát triển giao thông miền núi. Đó
không chỉ là niềm tự hào của riêng Tôi mà còn là sự ghi nhận đối với công sức
của hàng vạn người dân Hoàng Su Phì đã ngày đêm đổ mồ hôi trên các công trường
mở đường.
Một dấu ấn đặc biệt mà tôi không bao
giờ quên là vào đầu tháng 4 năm 1997, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, khi đó
là Phó Thủ tướng Chính phủ, đã về thăm Hoàng Su Phì. Cùng đi còn có lãnh đạo
tỉnh Hà Giang. Đoàn công tác đã trực tiếp dự lễ thông tuyến các công trình giao
thông trọng điểm và đến thăm công trường nơi hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và nhân
dân đang miệt mài thi công.
Trong buổi làm việc hôm ấy, đồng chí
Phó Thủ tướng đã biểu dương tinh thần đoàn kết, sáng tạo và ý chí vượt khó của
Đảng bộ, chính quyền cùng nhân dân các dân tộc Hoàng Su Phì. Những lời động
viên ấy là nguồn cổ vũ to lớn, tiếp thêm niềm tin để chúng tôi tiếp tục hoàn
thành những công trình còn dang dở.
Đến cuối những năm 1990, thành quả
đạt được ngày càng rõ nét. Huyện Hoàng Su Phì cùng nhiều tập thể tiêu biểu như
xã Tiên Nguyên, xã Thông Nguyên và xã Sán Sả Hồ đã được Bộ Giao thông Vận tải
tặng Cờ thi đua và Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào phát
triển giao thông miền núi. Đó là phần thưởng xứng đáng dành cho những địa
phương đã tiên phong, dám nghĩ, dám làm và biết phát huy sức mạnh của nhân dân.
Thế nhưng, đối với chúng tôi, phần
thưởng lớn nhất không phải là những lá cờ hay tấm bằng khen, mà chính là nụ
cười của người dân khi xe ô tô đầu tiên về đến bản; là niềm vui của những em
nhỏ không còn phải lội suối đến trường; là hình ảnh bà con đưa nông sản xuống
chợ thuận lợi hơn; là những chuyến xe chở thuốc men, vật tư, phân bón và hàng
hóa nối nhau vượt núi đến từng xã vùng cao.
Nhìn lại chặng đường đã đi qua, tôi
càng thấm thía rằng mọi thành tựu đều bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân. Nếu
không có sự đồng lòng của đồng bào các dân tộc, không có sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng bộ huyện và sự quan tâm của tỉnh, chắc chắn Hoàng Su Phì khó có thể
tạo nên kỳ tích giao thông trong một thời gian ngắn như vậy.
Những con đường hôm nay không chỉ
nối liền các bản làng, mà còn nối quá khứ gian khó với tương lai phát triển;
nối ý chí của lớp người đi trước với khát vọng vươn lên của các thế hệ mai sau.
Đó là giá trị bền vững nhất mà chúng tôi luôn trân trọng và gìn giữ.
Phần kết. Con đường của lòng dân
Hơn
ba mươi năm đã trôi qua, mỗi lần trở lại Hoàng Su Phì, đi trên những con đường
nhựa uốn lượn giữa núi rừng, nhìn những cây cầu vững chãi bắc qua suối sâu,
những bản làng ngày càng đông vui, trù phú, Tôi lại bồi hồi nhớ về những ngày
đầu mở đường. Những tiếng cuốc, tiếng xẻng, tiếng mìn phá đá giữa đại ngàn năm
nào như vẫn còn vang vọng. Bao gương mặt thân quen của những người đồng chí,
đồng đội và bà con nhân dân đã cùng nhau vượt qua biết bao gian khổ để viết nên
những trang sử đẹp của quê hương. Có người hôm nay vẫn còn, có người đã đi xa,
nhưng những con đường họ góp công xây dựng vẫn ngày ngày phục vụ cuộc sống của
bao thế hệ.
Điều quý giá nhất mà chặng đường ấy
để lại không chỉ là hàng trăm kilômét đường giao thông hay những cây cầu kiên
cố, mà còn là một bài học lớn về sức mạnh của lòng dân. Thực tiễn ở Hoàng Su
Phì đã chứng minh rằng, ở những vùng núi cao còn nhiều khó khăn, nơi nguồn lực
của Nhà nước còn hạn chế, nếu biết khơi dậy tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn
lên và ý thức làm chủ của nhân dân thì sẽ tạo nên nguồn lực vô cùng to lớn. Khi
người dân thực sự coi con đường là của mình, công trình là của mình và sự phát
triển là vì chính cuộc sống của mình, thì không có núi cao nào không thể vượt
qua, không có vách đá nào không thể mở lối.
Phương châm "Nhà nước và
nhân dân cùng làm, nhân dân là chủ thể" không chỉ là một giải pháp huy
động nguồn lực, mà còn là một tư duy phát triển bền vững. Nhà nước giữ vai trò
định hướng, hỗ trợ cơ chế, kỹ thuật và đầu tư; còn nhân dân là người trực tiếp
tham gia, gìn giữ và hưởng thành quả. Chính sự đồng thuận ấy đã biến những công
trình giao thông thành tài sản chung của cộng đồng, được trân trọng, bảo vệ và
phát huy hiệu quả lâu dài.
Ngày nay, điều kiện phát triển đã
khác trước rất nhiều, nhưng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị. Muốn xây dựng
vùng cao phát triển nhanh và bền vững thì không thể chỉ trông chờ vào nguồn vốn
đầu tư, mà cần tiếp tục phát huy nội lực của mỗi địa phương, khơi dậy tinh thần
tự lực, tự cường, ý chí vượt khó và khát vọng vươn lên của đồng bào các dân
tộc. Đó chính là nền tảng vững chắc để xây dựng hạ tầng, phát triển kinh tế,
giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.
Tôi tin rằng, những con đường của
hôm nay sẽ tiếp tục mở ra những chân trời mới cho Hoàng Su Phì. Và câu chuyện
về những ngày đồng bào các dân tộc cùng nhau mở đường bằng mồ hôi, ý chí và
niềm tin sẽ mãi là niềm tự hào của quê hương, là bài học quý cho các thế hệ mai
sau trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Nhìn lại chặng đường ấy,
tôi luôn coi mình là một người may mắn được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân
huyện Hoàng Su Phì tin tưởng giao nhiều trọng trách trong lĩnh vực giao thông.
Với cương vị Trưởng phòng Giao thông – Xây dựng huyện, tôi trực tiếp tham mưu
xây dựng chiến lược phát triển giao thông giai đoạn 1991–1995 và những năm tiếp
theo; đề xuất mô hình "Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân là
chủ thể", đồng thời trực tiếp chỉ đạo khảo sát, thiết kế và tổ
chức thực hiện nhiều công trình giao thông trọng điểm của huyện.
Tôi cũng vinh dự được thay mặt Đảng bộ huyện trình bày tham luận về mô hình phát triển giao thông miền núi tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang; được cùng các đồng chí lãnh đạo huyện báo cáo phương án phát triển giao thông với lãnh đạo Tỉnh ủy và Trung ương. Đồng thời Tôi vinh dự được tham gia đoàn đại biểu của huyện sang thăm huyện Mã Quan và Ma Ly Pho (thuộc Châu Vân Sơn-Trung Quốc) trong những ngày đầu hai nước Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ.
Những thành quả đạt được của Hoàng Su Phì trong giai đoạn ấy là niềm tự
hào lớn đối với cá nhân tôi, nhưng trên hết đó là thành quả của sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng, sự đồng lòng của nhân dân và sự cống hiến của biết bao cán
bộ, kỹ sư, chiến sĩ và người lao động đã ngày đêm bám công trường mở đường.
Nếu trong chặng đường ấy, tôi có chút đóng
góp nào đáng ghi nhận, thì đó cũng chỉ là một viên gạch nhỏ trong nền móng
chung mà nhiều thế hệ đã cùng nhau xây dựng vì sự phát triển của quê hương
Hoàng Su Phì.
Điều làm tôi mãn nguyện nhất không phải là những phần thưởng hay sự ghi nhận dành cho cá nhân, mà là mỗi lần trở lại Hoàng Su Phì, được chứng kiến đổi thay từng ngày. Những công trình điện, đường, trường, trạm, trụ sở …được đầu tư xây dựng khang trang; những con đường đất năm xưa nay đã được trải nhựa, mở rộng và nâng cấp; xe cộ đi lại nhộn nhịp, trẻ em đến trường thuận lợi, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ngày càng ấm no, hạnh phúc. Mỗi đổi thay ấy đều gợi cho tôi nhớ về biết bao tháng năm gian khó, khi từng mét đường được mở bằng mồ hôi, ý chí và khát vọng vươn lên của cả một cộng đồng.
Nhìn lại chặng đường đã
qua, Tôi càng thấm thía rằng mọi thành quả đều bắt nguồn từ sức mạnh của lòng
dân. Nếu không có sự đồng lòng, hy sinh và tinh thần vượt khó của hàng vạn
người dân Hoàng Su Phì thì sẽ không có những tuyến đường nối liền bản làng hôm
nay. Chính Nhân dân là chủ thể làm nên kỳ tích ấy; còn chúng tôi chỉ là những
người được Đảng và nhân dân giao trọng trách tổ chức, dẫn dắt và cùng chung sức
thực hiện.
Chiến tranh đã rèn luyện
cho Tôi ý chí kiên cường để bảo vệ Tổ quốc; hòa bình cho tôi cơ hội được tiếp
tục góp sức xây dựng quê hương. Được sống, được cống hiến và được chứng kiến
Hoàng Su Phì hôm nay từng ngày đổi mới, phát triển, đó là niềm hạnh phúc, niềm
tự hào và cũng là phần thưởng lớn lao nhất trong cuộc đời của một người cán bộ,
một người lính Cụ Hồ.
Nếu
mai này có ai hỏi điều gì quý giá nhất còn đọng lại sau những năm tháng ấy, Tôi
sẽ không nói về những phần thưởng hay danh hiệu, mà sẽ nói về những con đường
vẫn ngày ngày nối dài giữa đại ngàn, chở theo niềm tin, khát vọng và tương lai
của đồng bào các dân tộc Hoàng Su Phì. Đó chính là di sản đẹp nhất mà thế hệ
chúng tôi may mắn được góp phần tạo dựng và trao lại cho các thế hệ mai sau./.
(Ngô Lê Lợi: Hà Nội,11-2011)
HUYỆN HSP XƯA và NAY
KHẢO SÁT ĐƯỜNG BẢN MÁY
ẢNH DỰ ĐH ĐẢNG BỘ TỈNH HG KHÓA XII
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét