| Vợ chồng CCB Phạm Văn Dòng ở phường 10 thành phố Sóc Trăng |
Anh Dòng quê ở xóm 2, thôn Thanh
Nộn. Ngày nhập ngũ, anh đang học cấp III của trường huyện. Ở tuổi đôi mươi,
cũng như bao chàng trai làng quê khác, anh mang trong mình biết bao kỷ niệm hồn
nhiên của một thời tuổi trẻ.
Quê hương chúng tôi là vùng đồng
chiêm trũng, "chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã hạn". Thế nhưng tạo hóa
lại ưu ái ban tặng dòng sông Đáy hiền hòa như dải lụa mềm uốn lượn qua làng.
Những đêm trăng thanh gió mát, trai gái trong làng thường rủ nhau ra bờ sông
tâm tình. Những đoàn thuyền chở đầy hàng hóa lặng lẽ xuôi ngược, ánh trăng vàng
trải xuống mặt nước tạo nên một khung cảnh bình yên, trù phú. Đâu đó vang lên
tiếng sáo trúc dìu dặt, trầm bổng, khiến không gian càng thêm thơ mộng.
Mùa hè là khoảng thời gian vui nhất.
Lũ trẻ chúng tôi đu mình trên những cành phượng vĩ, rồi ùa xuống dòng sông tắm
mát, nô đùa thỏa thích. Nhớ lại những tháng ngày ấy, ai cũng thấy đó là một
phần tuổi thơ đẹp không thể nào quên.
Thế rồi chiến tranh đã gọi tên cả
một thế hệ. Những chàng trai mới mười bảy, mười tám, đôi mươi, cuộc sống còn
nhiều thiếu thốn nhưng ai trúng tuyển nghĩa vụ quân sự cũng đều háo hức. Được
khoác lên mình màu áo lính là niềm tự hào, là dấu mốc trưởng thành, là khát
vọng được cống hiến cho Tổ quốc.
Trái với niềm phấn khởi của con cái,
các bậc cha mẹ lại không khỏi lo lắng. Con còn quá trẻ, ăn chưa no, lo chưa
tới, liệu có đủ sức theo kịp đơn vị, có vượt qua được những gian khổ nơi chiến
trường hay không?
Đêm trước ngày lên đường nhập ngũ,
xã đoàn tổ chức buổi liên hoan tiễn tân binh. Chương trình văn nghệ tuy chỉ là
"cây nhà lá vườn" nhưng không khí vô cùng sôi nổi, ấm áp. Sau buổi
liên hoan, mỗi tân binh được tặng một túi quà nhỏ gồm một tuýp kem đánh răng và
một chiếc bàn chải. Món quà tuy giản dị nhưng với nhiều người, đó là món quà
đầu tiên trong cuộc đời, mang theo biết bao tình cảm của quê hương.
Đêm ấy, đúng dịp các cụ trong làng
làm lễ tại đình Thượng. Các cô gái cũng theo giúp việc hương khói. Đám thanh
niên sắp nhập ngũ rủ nhau ra đình xem hội, có người còn tranh thủ trêu ghẹo các
cô gái trong làng. Tuổi trẻ là vậy, hồn nhiên và đầy sức sống.
Có lẽ phần lớn thanh niên lên đường
năm ấy đều chưa có mối tình nào để phải lưu luyến. Chỉ riêng anh Tam đã kịp
cưới vợ trước khi nhập ngũ. Bởi vậy, những mối tình nảy nở trong đời lính về
sau thường rất sâu nặng, khó có thể phai mờ.
Hôm sau, xã đội bàn giao tân binh
cho huyện đội. Ai cũng được phát quân trang ngay tại chỗ. Những bộ quân phục
may theo cỡ số thường rộng thùng thình, mặc lên trông ai cũng ngồ ngộ khiến cả
đơn vị cười nói rộn ràng. Chỉ khi người chỉ huy nghiêm giọng nhắc nhở, hàng ngũ
mới trở lại ngay ngắn.
Khoảng mười giờ đêm, gần sáu trăm
tân binh của huyện bắt đầu cuộc hành quân bộ ra ga Phủ Lý để lên tàu vào đơn vị
huấn luyện. Chuyến tàu quân sự chạy xuyên đêm, đến gần sáng thì tới Bỉm Sơn
(Thanh Hóa), hầu như không dừng nghỉ.
Đó là những bước chân đầu tiên của
người lính. Phía trước là chiến trường ác liệt, là bom đạn, là kẻ thù, là những
gian khổ và cả sự hy sinh có thể đến bất cứ lúc nào. Phía sau là gia đình,
người thân, lũy tre làng và dòng sông Đáy thân thương.
Người lính ra trận mang theo trách
nhiệm với Tổ quốc. Họ gác lại tất cả: gia đình, quê hương, bạn bè, thậm chí cả
người vợ trẻ, những đứa con thơ và tương lai riêng của mình.
Một thời tuổi trẻ đã trôi qua như
thế. Những người lính bước vào chiến tranh với tâm thế thanh thản, không đòi
hỏi, không toan tính, chỉ mang trong tim một lý tưởng duy nhất: chiến đấu để
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Ngày hòa bình lập lại, mỗi người trở
về với một số phận khác nhau. Có người thành đạt, cuộc sống đủ đầy; có người
vẫn quanh năm vất vả; cũng có người không vượt qua nổi những khó khăn của cuộc
sống thời bình.
Biểu là một trường hợp khiến đồng
đội luôn day dứt. Gần mười năm chinh chiến qua nhiều chiến trường từ Đông Nam
Bộ đến Tây Nam Bộ, anh vẫn kiên cường vượt qua bom đạn. Thế nhưng khi trở về
quê hương, vì trình độ văn hóa hạn chế, kinh tế khó khăn, gánh nặng gia đình đè
nặng lên vai, cuối cùng anh đã chọn cái chết để giải thoát. Mỗi dịp họp mặt
đồng ngũ, chúng tôi vẫn mời vợ anh đến dự như một sự tri ân và tưởng nhớ người
đồng đội năm xưa.
Trong số những người bạn cùng nhập
ngũ, có lẽ Minh là người thành công nhất. Quê anh ở thôn Bút Sơn, nơi có nhà
máy xi măng lớn và nguồn đá vôi dồi dào. Nhận thấy tiềm năng ấy, anh mạnh dạn
đầu tư khai thác đá xây dựng. Từ những ngày đầu đầy khó khăn, đến nay anh đã
gây dựng được cơ sở sản xuất với dây chuyền hiện đại và số vốn lên tới hàng tỷ
đồng. Dù sống ở quê, anh vẫn có cuộc sống ổn định, sung túc, luôn gắn bó với
gia đình và bà con lối xóm.
Còn anh Tam, ngày xuất ngũ trở về
chỉ với hai bàn tay trắng. Không nghề nghiệp, không vốn liếng, anh bươn chải đủ
nghề để mưu sinh...
Nhờ ý chí và nghị lực của người
lính, cùng niềm tin "có công mài sắt, có ngày nên kim", anh Tam từng
bước vượt qua những khó khăn của cuộc sống. Chăm chỉ, cần cù như con kiến tha
lâu đầy tổ, từ những ngày khởi nghiệp đầy gian nan, đến nay anh đã xây dựng
được một doanh nghiệp có uy tín trong lĩnh vực xây dựng giao thông. Công ty của
anh hoạt động chủ yếu tại tỉnh Sơn La, chuyên thi công các công trình giao
thông miền núi.
Sau bao năm bươn chải, anh đã gây
dựng được cơ ngơi đáng tự hào: một ngôi nhà khang trang rộng hàng trăm mét
vuông tại thị trấn Văn Điển (Hà Nội), có xe ô tô riêng và cuộc sống ổn định.
Điều khiến anh hạnh phúc hơn cả là các con đều trưởng thành, nối nghiệp cha
trong ngành xây dựng giao thông, lập gia đình yên ấm và anh chị đã lên chức ông
bà từ nhiều năm nay.
Nhìn lại chặng đường đã qua, ai cũng
vui mừng trước thành quả của anh. Đó là phần thưởng xứng đáng cho một người
lính đã mang cả tuổi xuân vào chiến trường rồi trở về tiếp tục chiến đấu với
cuộc sống bằng chính đôi bàn tay và ý chí của mình.
Anh Kỷ sau khi xuất ngũ trở về quê
đã tiếp tục học tập, hoàn thành chương trình phổ thông và tham gia công tác địa
phương. Hiện anh là Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Thanh Sơn và vẫn tiếp tục
học lớp Cao cấp lý luận chính trị. Con đường của anh là minh chứng cho tinh
thần không ngừng học tập và cống hiến.
Anh Tùng trở về quê, tiếp tục tham
gia công tác một thời gian rồi nghỉ theo chế độ mất sức. Có lương hưu, thêm một
quán bia nhỏ do gia đình mở nên cuộc sống cũng đủ đầy, bình yên.
Hiếu - người bạn ở gần nhà Dòng nhất
- sau ngày phục viên được tín nhiệm giữ chức Bí thư Đoàn xã. Những năm bao cấp,
cuộc sống tuy còn khó khăn nhưng ổn định. Sau này, anh nghỉ công tác, được cấp
một mảnh đất gần trụ sở xã để dựng căn nhà nhỏ. Hai vợ chồng cần cù buôn bán
rau quả, "mua gì bán nấy", cuộc sống tuy không khá giả nhưng vẫn đầm
ấm.
Còn tôi, cuộc đời quân ngũ gắn với
nhiều chiến trường khác nhau. Tôi đã tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
trong đội hình tiến công từ hướng Tây Nam. Đơn vị xuất phát từ đất Campuchia,
tiếp quản thành phố Cần Thơ rồi đóng quân tại Sóc Trăng với phiên hiệu D23-11. Từ cuối năm 1975 hành quân lên bảo vẹ biên giới An Giang đóng quân tại căn cứ Chi Lăng. Đầu tháng 4/1976 quân đội cho ra Bắc đi học và điều động lên công tác phục vụ chiến đấu tại chiến trường phía Bắc hơn 31 năm và nghỉ hưu.
Những ngày ấy, đường Trần Hưng Đạo
là tuyến phố quen thuộc nhất của chúng tôi. Do tình hình an ninh sau giải phóng
còn nhiều phức tạp, bộ đội hầu như chỉ huấn luyện và làm nhiệm vụ trong doanh
trại. Nếu ra ngoài đều phải đi theo tổ từ ba đến năm người.
Sau ba tháng đóng quân tại Sóc Trăng,
tình hình biên giới Tây Nam diễn biến căng thẳng, đơn vị được điều lên Chi
Lăng, huyện Tri Tôn (An Giang) để làm nhiệm vụ. Đến năm 1980, tôi được cử ra
Bắc học Trường Giao thông Đường bộ tại Vĩnh Phú. Tốt nghiệp, Bộ Giao thông Vận
tải điều động tôi lên công tác tại tỉnh Hà Tuyên, rồi gắn bó hơn ba mươi năm
với huyện vùng cao biên giới Hoàng Su Phì (Hà Giang).
Suốt hơn mười năm (1980-1991), tôi
trực tiếp tham gia phục vụ cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Hoàng Su
Phì khi ấy là một trong những huyện có giao thông khó khăn nhất cả nước. Chỉ
hơn 60 km đường vào huyện nhưng có tới hơn 70 khúc cua hiểm trở. Đến nay đã
nghỉ hưu, tôi vẫn luôn mong Nhà nước tiếp tục quan tâm đầu tư để đồng bào nơi
đây có điều kiện đi lại thuận lợi hơn.
Trong mỗi lần họp mặt
đồng đội, chúng tôi đều nhắc đến Dòng. Ai cũng mong có ngày được vào miền Tây
thăm người bạn năm xưa. Mãi đến tháng 7 năm ấy, điều mong ước mới trở thành
hiện thực.
| Cổng vào chùa Dơi Sóc Trăng (Vợ chồng tác giả và mẹ tác giả) |
| Một góc chùa Dơi Sóc Trăng Tác giả và mẹ tác giả) |
| Trong chùa Dơi-Tượng Phật tổ niết bàn |
Đặt chân xuống Thành phố Hồ Chí Minh
lúc gần nửa đêm, sáng hôm sau tôi cùng mẹ và vợ thuê xe đi Sóc Trăng.
Con đường hơn 240 km đi qua Long An,
Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang khiến tôi không khỏi ngỡ ngàng.
Miền Tây hôm nay đổi thay quá nhiều. Những cây cầu Mỹ Thuận, Cần Thơ sừng sững
nối đôi bờ thay cho những chuyến phà năm nào. Đường sá rộng mở, xe cộ tấp nập,
cuộc sống sôi động hơn rất nhiều so với những ngày sau giải phóng.
Quả thật, câu ca:
"Miền Tây gạo trắng nước trong,
Ai đi đến đó lòng không muốn về..."
vẫn còn nguyên giá trị. Bữa cơm với
cá kho tộ, canh ngó sen và cá lóc đồng khiến người phương xa nhớ mãi hương vị
miền sông nước.
Đến Sóc Trăng, tôi ghé thăm chùa Dơi
- ngôi chùa Khmer nổi tiếng hơn bốn trăm năm tuổi, nơi hàng nghìn con dơi lớn
trú ngụ giữa những tán cây cổ thụ. Hơn bốn mươi năm trước, khi còn là người
lính trẻ, tôi từng cùng đồng đội lén vào đây tham quan. Ngày ấy chỉ thấy ngôi
chùa thật đẹp; hôm nay trở lại, tôi mới hiểu thêm giá trị lịch sử, văn hóa và
tâm linh của ngôi chùa nổi tiếng này.
Rời chùa Dơi, tôi tìm về nhà Dòng
trên đường Trần Hưng Đạo. Sau vài lần hỏi thăm những người dân lớn tuổi, cuối
cùng cũng tìm được ngôi nhà của người bạn cũ.
Cuộc gặp sau hơn ba mươi lăm năm
khiến ai cũng xúc động.
Dòng vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Hiện
anh là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường 10. Chúng tôi ngồi bên nhau, nhắc lại
chuyện chiến trường, chuyện quê hương, chuyện bạn bè và cả những vui buồn của
cuộc sống.
Năm 1982, Dòng lập gia đình với
người nữ quân y cùng đơn vị. Hai người con đều đã trưởng thành, có nghề nghiệp
ổn định và xây dựng gia đình riêng. Anh chị nay đã có cháu nội, cháu ngoại.
Trên mảnh đất rộng gần một nghìn mét vuông, anh chị dựng một ngôi nhà nhỏ,
trồng cây ăn trái, rau màu, nuôi thêm gà vịt. Cuộc sống giản dị nhưng bình yên
và đủ đầy.
Ngẫm lại, hạnh phúc đôi khi không
nằm ở sự giàu sang mà ở sự bình yên sau những năm tháng chiến tranh. Câu nói
của cha ông: "Trông lên chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng"
dường như rất đúng với gia đình Dòng.
Ba giờ chuyện trò trôi qua thật
nhanh. Vì đã có lịch trình tiếp tục chuyến đi nên tôi đành chia tay người bạn
cũ. Trước lúc về, vợ chồng Dòng chuẩn bị cho chúng tôi vài hộp bánh pía đặc sản
Sóc Trăng và một con gà vườn làm quà. Những món quà không lớn nhưng chứa đựng
biết bao tình cảm chân thành của người bạn, người đồng đội.
| Vợ-chồng Phạm Văn Dòng khi mới xây dựng gia đình và con gái đầu chụp 1982 |
| "Mái ấm" của Phạm Văn Dòng |
| Tác giả và Bạn CCB Phạm Văn Dòng |
| Vợ chồng Tác giả và vợ chồng Bạn Phạm Văn Dòng (Vườn nhà Dòng) |
| Con Dâu và cháu nội |
| Con gái và cháu nội |
Xin chúc vợ chồng Dòng luôn mạnh
khỏe, hạnh phúc; chúc các con, các cháu thành đạt; và chúc tình đồng đội của
những người lính năm xưa - những cựu chiến binh thôn Thanh Nộn, xã Thanh Sơn -
sẽ mãi bền chặt theo năm tháng.
Đoạn kết: Hòa bình
đã mở ra một hành trình mới cho những người lính. Rời chiến trường trở về đời
thường, họ lại tiếp tục chiến đấu bằng lao động, ý chí và khát vọng xây dựng cuộc
sống ấm no. Dẫu thời gian có phủ bạc mái đầu, tình đồng đội và những năm tháng
cống hiến cho Tổ quốc vẫn mãi là ký ức thiêng liêng, nâng bước họ trên suốt chặng
đường còn lại của cuộc đời./.
| Vườn cây trái của Phạm Văn Dòng |
| Con gái (cả) của Phạm Văn Dòng hiện là cô giáo tiểu học |
| Con dâu và cháu nội của Phạm Văn Dòng ẢNH CÁC BẠN ĐỒNG MÔN |
| Các ban đồng môn: Thành-Yến-Nguyễn Chí Thành (xóm 1) và Nguyễn Hồng Quang xóm 3 |
| Các bạn Dũng ở xóm 3 và Bạn Phạm Hải Yến ở xóm 1 |
| Gặp mặt hội đồng môn bạn học với Dòng (lớp 7A) năm 2011 (chụp ở nhà Bạn Công) |
| Gặp mặt hội đồng môn lớp 7A-đầu năm 2011 |
![]() |
| Gặp mặt hội đồng môn (lớp 7A) năm 2007 (Bạn Yến tổ chức gặp mặt) |
Đồng Trẩm và phía sau cánh đồng Trẩm và Núi Dâu







