ẢNH CHỤP GIA ĐÌNH 14/12/2024

THẦY PHONG THỦY-TỬ VI-TRẠCH CÁT


NHẬN TƯ VẤN: phong thủy-Tử vi và xem ngày tốt xấu các việc::
+Phong thủy Dương trạch và Âm trach. Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng; bếp nấu; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Âm trạch tư vấn đặt mộ, lấy hướng trong nghĩa trang hoặc khu mộ gia đình.
+Chọn ngày Tốt các công việc: Xem tuổi xây nhà, sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới, ăn hỏi. Mua sắm ô tô và xe máy.
+Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.
Xem Tử vi: Dự đoán vận mệnh cuộc đời-Dự đoán năm lấy vợ, lấy chồng. Đại tiểu vận làm ăn tốt; Dự báo tang ma, ốm đau, vận hạn và Hóa giải đề cuộc sống tốt đẹp hơn.



Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Tranh Phật ManDaLa

                                                          

Ảnh Tổng GĐ công ty sonvu.vn ở Hà Nội (tranh treo phía sau bên trên)
           (Theo yêu cầu của nhiều bạn đã mua tranh Mandala nhưng không biết treo ; bài viết này tư vấn treo tranh).

T Mandala xut phát t ch gc “manda” có nghĩa là “tinh túy” và hu t “la” được thêm vào sau này, nghĩa là “cha đng”. Do đó, Mandala được gii thích rõ ràng là cha đng s tinh túy. Hình nh Mandala biu trưng cho thân và tâm ca đc Pht.  

S bt đu ca mt Mandala ly trung tâm t mt du chm. Đây là mt biu tượng rõ ràng v s vô hn và cũng là mt chng t – mt ht ging, là khi đim quan trng nht. Tâm đim này thu hút tt c năng lượng ca vũ tr bên ngoài, và trong vai trò là lc hút, năng lượng ca người tín tâm được khai m và cũng được hút vào trong đó. Vì vy, Mandala là biu trưng ca tt c không gian vũ tr bên ngoài và bên trong. Ch đích ca Mandala là loi b s ngăn cách gia vt th và ch th. Mandala được coi là Tổng hợp các  Đc Pht, Các vị Thánh và La Hán. Trong vic kiến lp Mandala, mt đường thng s xut phát t tâm đim và nhng đường thng khác s được v cho đến khi chúng giao nhau, to ra nhng hình tam giác. Các Vòng đều  được v là các vị Phật. Hình vuông bên ngoài biu trưng cho thế gii vt cht hướng ra bn phương, được biu trưng bi bn cng. Trung tâm Mandala được coi là s tinh túy, và đường tròn là s bo trì. Bi vy, mt bc tranh Mandala hoàn chnh có nghĩa là bo trì s tinh túy.
          Có th nói s quán tưởng và c th hóa khái nim Mandala là mt trong nhng đóng góp có ý nghĩa nht ca đo Pht đi vi tâm lý hc tôn giáo. Mandala được coi là cnh gii linh thiêng và s hin din ca Mandala trên thế gii này nhc nh người chiêm ngưỡng v ni ti ca tính thiêng liêng trong vũ tr và tim năng ca vũ tr trong bn thân mi người. Trong Đo Pht, mc đích ca Mandala là chm dt s đau kh ca con người đ thành tu giác ng và đ đt được chính kiến v thc ti hay bn cht chân tht ca vn pháp. Mandala là mt phương tin đ khám phá ra phm cht siêu vit thông qua s chng ng Mandala nơi t tâm ca mi người.
          Công năng của tranh MANDALA là tranh vẽ về tất cả các vị Phật; Bồ tá, La Hán: vòng ngoài cùng là La Hán, rồi Bồ tát và vòng trong cùng là vẽ về Phật ; trong cùng là TAM THẾ PHẬT. Tranh này  Cải thiện môi trường nhiều Âm khí, Tà khí; Cải thiện Khí trong phòng làm việc (nhà) của người lãnh đạo, giúp có sức khoẻ tốt và sáng suốt hơn trong chỉ đạo. Tăng thêm uy lực lãnh đạo, trợ giúp thăng tiến;Hạn chế phát tác của các vong trú ngụ trong nhà vì cảm phục Đức Phật va các Tiên Thần trong tranh;Hạn chế tác hại của trường năng lượng của máy tính, máy điều hoà nhiệt độ, TV, điện thoại di động v.v... và Hỗ trợ chữa bệnh.

Luận giải về bức tranh “MANDALA” có một ý nghĩa cao siêu là: “Sự tập hợp một lá số tử vi lớn dành cho trái đất”. Cũng còn là một hằng số “bốc quẻ của các tôn giáo” như một hiệu ứng Dịch học theo hình sin (Biểu đồ lên xuống); chính vì thế người ta đã phân ra các đặc thù của 72 loại MANDALA hiệu ứng cho các trạng thái ,bản chất, tâm tính, và nghi thức tôn giáo của con người. Bức tranh MANDALA  là một bức vẽ tổng hợp về Tâm linh trong đó có trời –đất, phật, thánh  và biểu tượng của sự linh thiêng còn  mang một tâm nguyện (thông điệp) của  thế giới hòa bình và sự đủ đầy, trong sáng. Nên trong mỗi gia đình hay người lãnh đạo các doanh nghiệp nếu mà được treo bức tranh đó thì  gia đình hay doanh nghiệp đó  làm ăn chắc chắn sẽ tốt hơn và có tài lộc , thịnh vượng, tăng trưởng bền vững.

 *Màu sắc Tranh

Mỗi màu này đều có liên quan tới một trong năm đức Phật siêu việt, thêm nữa cũng có liên quan tới năm ảo tưởng của bản chất con người. Những ảo tưởng này che chướng bản chất chân thật của con người, nhưng thông qua việc thực hành tâm linh, chúng có thể chuyển hóa thành năm trí tuệ tương ứng với năm đức Phật siêu việt, cụ thể là:
* Màu trắng – Vairocana (Đức Tỳ Lư Giá Na Phật): Ảo tưởng của vô minh trở thành Pháp giới thể tính trí.
* Màu vàng - Ratnasambhava (Bảo sinh Phật): Ảo tưởng của ngã mạn chuyển thành Bình đẳng tính trí.
* Màu đỏ - Đức Adi đà: Si mê của chấp thủ trở thành diệu quan sát trí
* Màu xanh lục - (Bất Không thành tựu Phật): Si mê đố kỵ trở thành Thành sở tác trí.
* Màu xanh sẫm - (Đức Asuc Bệ): Si mê của sân giận trở thành Đại viên kính trí Mandala là phẩm vật cúng dường thiêng liêng

 *Hoạt động của tranh

Tranh Mandala tự thân luôn luôn phát sáng với ánh sáng lành và nhiều sinh lực. Khi được kích hoạt thì tranh bừng sáng và công lực hoạt động mạnh mẽ hơn nhiều.

Khảo sát ánh sáng của tranh bằng nhãn thần thì thấy tranh phát sáng rất mạnh, giữa có cột sáng đỏ và ánh bạc rất sáng. Khí xoáy hình phễu hướng ra. Trục Đông Tây Nam Bắc có 4 luồng sáng mạnh. Trên tranh có nhiều tia sáng chiếu ra (Hình 1). Hình này chỉ là mô tả rất sơ sài về ánh sáng của tranh. Tác giả không thể mô tả hết ánh sáng rất sinh động của bức tranh này bằng một hình vẽ.

        Khi Tranh đã được “linh hóa”  thì Tranh Mandala phát sáng và phát huy công năng.

*Công năng của tranh

Tranh có những công năng cơ bản sau đây:
- Cải thiện môi trường nhiều Âm khí, nhiều Tà khí;
- Cải thiện Khí trong phòng làm việc của người lãnh đạo, giúp có sức khoẻ tốt và sáng suốt hơn trong chỉ đạo. Tăng thêm uy lực lãnh đạo.
- Trợ giúp thăng tiến cho người lãnh đạo.
- Hạn chế phát tác của các vong trú ngụ trong nhà vì cảm phục Đức Phật va các Tiên Thần trong tranh.
- Hạn chế tác hại của trường năng lượng của máy tính, máy điều hoà nhiệt độ, TV, điện thoại di động v.v...
- Hỗ trợ chữa bệnh.

*Quy cách của Tranh: thường có qui cách vuông: 50x50 (ứng với kích thước Lỗ Ban là “Được Phúc Lộc”;

*Quy cách khi làm khung (đã có cả Tranh) là : Tùy chọn sở thích và màu sắc của từng người!

 *Vị trí treo tranh

Tranh được treo ở các vị trí sau đây trong nhà:

-Phòng khách hay phòng làm việc treo bên trên và cao nhất.
-Trong phòng khách gia đình để cải thiện môi trường Khí trong nhà và hạn chế phát tác của các vong (ma) lạ đang trú ngụ trong nhà nếu có, giúp chữa bệnh khi cần thiết. Và có sự hỗ trợ để gia đình làm ăn tốt hơn.
-Trong phòng làm việc của lãnh đạo (Giám đốc các doanh nghiệp) : treo phía sau lưng chỗ ngồi , sao cho ánh sáng của tranh chiếu dọi vào bàn làm việc để tăng sức khỏe, trí thông minh, tăng uy lực lãnh đạo, trợ giúp thăng tiến, và chữa bệnh khi cần. Tác dụng khác là: Các doanh nghiệp làm ăn khó khăn sẽ có sự trợ giúp từ Phật và Trời đất nên kinh doanh sẽ tốt hơn.
-Tranh sẽ hạn chế   hạn chế tác hại của trường năng lượng của máy tính, ti vi... đến trường hào quang của cơ thể con người.
- Tường để  treo tranh hạn chế các tranh khác để phát huy năng lượng tranh phật

 *Treo tranh Phật có thể hạn chế tối đa được hạn ách và tai nạn (Các gia đình, các nhà Doanh nghiệp và những ai có duyên với Phật thì nên treo bức tranh MANDALA).

      Bởi vì Trong Đạo Phật mục đích của mandala là chấm dứt sự đau khổ của con người, để thành tựu giác ngộ, để đạt được chính kiến về Thực Tại. Mandala là một phương tiện để khám phá ra phẩm chất siêu việt thông qua sự chứng ngộ Mandala nơi tự tâm của mỗi người.

 (Ngô Lê Lợi-Hà Nội 14/10/2014-Mùa Thu).                                                                                    (Xem thêm về Tranh ở phuongdonghoaloi.blogspot.comHướng dẫn treo tranh phật Mandala)



         











      

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Ngã 3 Đồng Lộc không bao giờ quên

                                                                               
                                    
 
       Từ ngày 24 đến 27/7/2014 ; Một vinh dự là Hội cựu chiến binh phường Trung Hòa do đồng chí Đại tá Nguyễn Gia Vừa Chủ tịch Hội và đồng chí Thượng tá Nguyễn Ngọc Dinh phó Chủ tịch Hội đã tổ chức cho Hội viên CCB của phường hành hương quê Bác Võ Nguyên Giáp; quê hương của Đại tướng và viếng thăm các địa điểm tâm linh trên đường trở ra Hà Nội; Đoàn đã đến viếng đền 8 cô ở Quảng Bình và khu tưởng niệm  10 cô thanh niên xung phong hy sinh ở Ngã 3 đồng Lộc (Can Lộc-Hà Tĩnh) nhân dịp kỉ niệm 27/7 năm 2014.

Ý nghĩa và tự hào.
 
VIẾNG MỘ ĐẠI TƯỚNG TẠI VŨNG CHÙA
                                                                                  
                                                                           
 






VIẾNG HANG 8 CÔ Ở QUẢNG BÌNH
                                                                         






                                                                        
VIẾNG MỘ 10 THANH NIÊN XP Ở HÀ TĨNH
                                                                         

 
 
 
 

 
                                                                           




QUÊ ĐẠI TƯỚNG Ở Quảng Bình

                                                                           
 
 
 
 
 

BÃI BIỂN CỬA LÒ
                                                                          
 
 
 
 
 
 

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Tháng cải táng và tu sửa âm phần




Ảnh chụp Cậu Hoàng Văn Sinh và Hoàng Văn Quân đang làm lễ xây mộ ông Ngoại ở Nghĩa trang
Con Khoa-Phường Ỷ La- thành phố Tuyên Quang- Tỉnh Tuyên Quang

    Hàng năm cứ vào dịp từ cuối Thu đến trước ngày Đông Chí của năm nhân dân lựa chọn  thời điểm để cải táng và tu sửa âm phần  là một việc vô cùng quan trọng. Theo phong tục của người Việt Nam, người mất sau  qua 3 năm thì cải táng, cũng là lúc con cháu mãn tang, tức là hoàn toàn hết để tang vong linh. Vì thế, việc cải tháng thường được tiến hành sau 3 năm chôn hung táng. Tuy nhiên, hiện nay thực tế môi trường địa lý và khí hậu có nhiều thay đổi, các hoá chất được sử dụng nhiều trong đất để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng sau 3 năm xác người chết chưa phân huỷ diễn ra khá phổ biến, nên nhiều gia đình lựa chọn giải pháp là để thời gian cải tháng lâu từ 4 đến 5 năm để tránh hiện tượng trên. Năm để tiến hành cải táng phải lựa chọn theo tuổi của vong, tránh những năm xung sát.

      Ngoài ra còn phải căn cứ theo tuổi của trưởng nam trong nhà, vì khi vong đã mất thì mọi sự may rủi đều gánh trên vai của người trưởng nam. Năm để tiến hành cải táng cũng phải được phù hợp với tuổi của người Trưởng nam." Theo thuật Phong thuỷ cổ truyền” thì việc tiến hành cải táng có những công việc cần chuẩn bị như sau:  Chọn thời gian: Tuỳ theo từng gia đình, hoàn cảnh cụ thể để tiến hành. Tuy nhiên theo tất cả các sách từ xưa để lại, thời gian tốt nhất trong năm là từ cuối Thu đến trước ngày Đông Chí của năm. Không ai cải táng , quy tập mộ đầu năm cũng như sau Đông Chí cả.

Tìm huyệt cát: Đó là nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố tốt theo Phong thuỷ của một ngôi mộ.
Cũng có người không tin gì cả thì họ làm đơn sơ bằng cách thông báo với người nhà định một ngày thuận lợi nào đó rồi con cháu xúm tay vào đào mộ cũ, lấy hài cốt rửa sạch bằng cồn hoặc rượu rồi xếp đúng trình tự vào tiểu rồi mang chôn sang chỗ mới. Cũng có một vài mâm cúng như giỗ là xong.

Tuy nhiên đào mộ lên để lấy hài cốt vệ sinh rồi xếp vào tiểu không phải ai cũng làm được. Do vậy phải thuê người làm quen việc đó.

Ngoài ra nếu tin thì còn phải xem mộ mới đặt theo hướng nào là tốt cho ngươì đã mất vì người ta quan niệm người dưới mộ có an phận thì người thân mới bình an hạnh phúc.

Chọn ngày, giờ tốt: Ngày giờ tốt với tuổi người đã khuất và trưởng nam (hoặc thứ nam nếu không có trưởng nam) trong gia đình.

Người chủ trì (vợ, con, cháu…) phải căn cứ tuổi mình để xem ngày , giờ tốt cho việc cải táng là ngày tháng năm nào. Ngày đó phải là ngày tốt cho sang cát, không được xung với tuổi người chủ trì cũng không xung với tuổi người được sang cát.

Xây, đắp mộ: Tiến hành xây, đắp mộ chìm, mộ nổi hay mộ công quan theo lối cổ.

Lễ tạ mộ: Dâng lễ thắp hương lễ tạ Quan Thần linh, hàn Long mạch, cầu siêu.

       Phải mời người biết cúng hoặc tự mình cúng (nhưng phải có bài văn khấn trong tay để đọc hay học thuộc để đọc và nhớ là đọc thầm thôi). Văn khấn có mấy bài: khấn khi thắp hương ở nghĩa trang để xin phép thổ thần, khấn khi động thổ đào mả lên, khấn khi mang đến nghĩa trang mới xin phép thổ thần nơi đến, khấn cúng người dưới mộ.

Chuyển linh vị sang bàn thờ chính: Tại nhà thì chuyển linh vị (hay ảnh thờ) lên bàn thờ gia tiên. Còn tại nhà thờ họ thì đưa linh vị, ảnh hoặc ghi tên (tuỳ theo cách thức của từng vùng, miền) lên bàn thờ họ (hoặc chi). Các bước tiến hành cho việc cải táng nên tham khảo những người có nhiều kinh nghiệm trong công việc này.

 (Ngô Lê Lợi-Hà Nội; tháng 11 năm 2013)

 ẢNH CHỤP Ở NGHĨA TRANG CON KHOA-Ỷ LA-TUYÊN QUANG
(xây bảo vệ mộ ông ngoại)
 




 
 
ẢNH CHỤP Ỏ NGHĨA TRANG VƯỜN TÈ -THÔN THANH NỘN-THANH SƠN
                   KIM BẢNG-HÀ NAM: Mở đường ra nghĩa trang


 
 

 

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Xem Tử vi để định hướng để lựa chọn nghề nghiệp

                                                                              
Các học viên lớp N/C Dịch học-Tử vi chụp ảnh với thầy Phạm Văn Thảnh GĐ Trung tâm (Thầy Thảnh thứ 2-phải)
                                                                                                                                                          
           Để có được một tương lai vững chắc, mọi người  cần phải chọn cho mình một nghề vững chắc. Nếu sự lựa chọn ấy không đúng đắn, tương lai sẽ đứng trước nguy cơ sụp đổ. Vì thế, cần tỉnh táo, cân nhắc kỹ khi tự định hướng nghề nghiệp, chọn cho mình một nghề nghiệp cụ thể.

                                                                                                      
Học viên tang hoa thầy Nguyễn Ngọc Thuyết nhân ngày nhà giáo Việt Nam


Làm cách nào để tránh những lựa chọn không đúng đắn khi tự định hướng nghề nghiệp, khi chọn nghề cho chính bản thân mình.


Để hạn chế những sai lầm khi tự định hướng nghề nghiệp, cần lưu ý những vấn đề sau.



Khi  tự định hướng nghề nghiệp cho mình tuyệt đối không nên chọn nghề theo sự mong muốn, áp đặt của người thân.


Quan điểm của các bậc sinh thành bao giờ cũng  muốn con cái chọn nghề truyền thống của gia đình hoặc theo định hướng  gia đình đã vạch sẵn, tuân theo, hoặc chọn nghề dựa vào mối quan hệ của gia đình.

Tự định hướng nghề nghiệp bằng cách chọn nghề theo sự rủ rê của bạn bè, của người thân.


Tương lại là của mình , không ai giúp mình bay cao bay xa ngoài trừ chính bản thân của mình. Vì vậy đừng để mình bị dụ dỗ từ chính cộng đồng.

Chọn nghề may rủi theo kiểu chọn đại đó là điều không nên trong khi  tự định hướng nghề nghiệp cho chính mình.


Có những người đôi khi không xác định được khả năng của mình đến đâu, đam mê cái gì, nên hay dùng cách “chọn đại” để giải quyết vấn đề, và sau đó thì hối hận cho quyết định của mình, đây là một sai lầm lớn.

Tại sao chỉ chọn nghề ở bậc đại học.


Nên có cái nhìn thoáng hơn về nghề nghiệp. Không phải chọn nghề ở bậc đại học, ra trường sẽ có điều kiện làm việc tốt hơn, hoặc chọn bậc đại học cốt yếu để có tiếng.  Thực chất khi làm việc, nhà tuyển dụng sẽ cân bằng năng lực, tâm huyết  cho công việc chứ không phải ở tấm bằng đại học.

Chọn nghề theo mác, theo nhãn, theo trào lưu đó là sự tự định hướng nghề nghiệp sai lầm.


Việc tiếp thu kiến thức từ internet, báo chí đã khiến cho một số người cảm thấy thích thú khi nghe những tên nghề có tiếng vang nhưng thực chất thì có rất ít bạn trẻ đam mê, theo đuổi đến nơi. Và cuối cùng thì cái mác cũng chỉ là mác mà thôi.

Chọn nghề nổi tiếng, dễ kiếm tiền mà không biết nghề đó có phù hợp với mình không.


Bất cứ công việc nào dù dễ kiếm tiền đến đâu, nếu   không thích thú và cứ ép mình vào khuôn khổ thì sẽ có lúc  cảm thấy chán nản, muốn buông xuôi tất cả.

Chọn nghề không nghĩ đến những điều kiện kinh tế, cá nhân, gia đình.


Trong trường hợp này,  cần phải cân nhắc kỹ, không phải lúc nào  cũng có đủ điều kiện thực hiện công việc của mình.

Chọn nghề không gắn với nhu cầu xã hôi.


Thường là những người sống nội tâm, chiều hướng nội, hơi lập dị. Sẽ khó thăng tiến trong nghề nghiệp hơn khi chọn nghề như thế.

Việc chọn nghề không liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo hay bất cứ mê tín nào cả. Do đó nó không ảnh hưởng đến sự lựa chọn ; định hướng nghề trong tương lai.


 Mọi người hãy dành thời gian và công sức thỏa đáng để lên kế hoạch cho sự nghiệp của mình. Tập trung vào các cơ hội nghề nghiệp, sẵn sàng học hỏi rút kinh nghiệm. Định hướng nghề nghiệp, biết cách tập trung hơn vào những lĩnh vực khác của cuộc sống.


Sự nghiệp của mỗi cá nhân có thể được ví như một cuộc hành trình. Nếu muốn hành trình mình đang đi là một chuyến thám hiểm đầy thú vị, có mục đích,  phải biết cách quản lý tốt hành trình đó. Ngược lại,  sẽ làm cho nó trở thành một chuyến đi vô định. Hãy dành một chút ít thời gian để định hướng nghề nghiệp riêng cho bản thân  mình và có quyết định hướng đi đúng đắn.

*Để biết và định hướng  lựa chọn  nghề nghiệp trong tương lai ; tại sao mọi người không thử đến với môn Tử -Vi là môn “Đệ nhất thần sô” sẽ biết sơ lược và cụ thể cuộc đời của mỗi con người.

Tử vi, hay tử vi đẩu số, là một hình thức  xem khoa học và có lý luận từ xa xưa được “Bí truyền”   đến ngày nay; tất cả  vận mệnh con người được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết âm dương, ngũ hành, Can Chi… bằng cách lập lá số tử vi với Thiên bàn, địa bàn và các cung sao; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính để lý giải những diễn biến xảy ra trong cả cuộc đời của con  người.


Mọi giải đáp –tư vấn về cuộc đời: Đại vận, tiểu vận, thăng quan, tiến chức, nghề nghiệp.... đều lí giải khoa học; nếu các bạn tìm đến?


(Ngô Lê Lợi- Nghiên cứu Phong thủy-Tử vi-Dịch học -Hội viên CLB Phong thuyrv Thăng Long-Hà Nội)

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Kiếp của con người và tuổi thọ theo Phật giáo

Thả phóng sinh chim nhân ngày lễ Phật đản 2013 ở chùa Đại Giác (Huyện Chương Mĩ-Hà Nội)


Kiếp, dịch âm kiếp-ba từ chữ Phạn Kalpa. Danh từ Kalpa không phải do Phật giáo sáng tạo, mà là tên gọi chung một đơn vị thời gian của Ấn Độ cổ đại, để tính những khoảng thời gian dài, cũng như từ sát-na (ktana) cũng là một đơn vị thời gian chỉ khoảng thời gian ngắn. Nói dài thì có thể dài vô hạn, mà nói ngắn thì cực ngắn như một sát na.

Nhưng, thông thường, từ "kiếp" được dùng để chỉ khoảng thời gian dài của thế giới sa bà, nơi chúng ta ở, kinh Phật nói kiếp có 3 cấp :

Thứ nhất là  kiếp nhỏ (tiểu kiếp) được tính theo thọ mệnh của loài người trên địa cầu này. Từ mức thọ mệnh dài nhất là 84.000 tuổi, cứ quá 100 năm, giảm một tuổi, giảm tới khi thọ mệnh người chỉ còn 10 tuổi, giai đoạn này gọi chung là giảm kiếp. Rồi, từ thọ mệnh 10 tuổi, qua 100 năm, tăng thêm một tuổi, cho đến khi đạt mức thọ mệnh 84.000 tuổi, gọi chung là tăng kiếp. Quá trình thời gian một lần giảm một lần tăng như vậy gọi là một kiếp nhỏ (tiểu kiếp).

Cấp thứ hai là kiếp trung bình (trung kiếp). Hai mươi tiểu kiếp gộp lại thành một trung kiếp. Theo sách Phật, địa cầu nơi chúng ta ở, diễn biến qua bốn giai đoạn lớn : Thành (hình thành), Trụ (tồn tại), Hoại (hủy hoại), Không (thành hư không). Mỗi giai đoạn lớn như vậy, dài bằng 200 tiểu kiếp. Trong bốn giai đoạn nói trên, chỉ có giai đoạn trụ là có người ở. Trong giai đoạn sơ Thành địa cầu có thể lỏng và thể khí, và từ thể lỏng khô cứng dần dần. Vì vậy mà người không thể ở được. Đến giai đoạn "Hoại", trái đất bị phá hoại kịch liệt, dữ dội, người cũng không thể ở được. Theo sách nói, trong giai đoạn này, trái đất phải trải qua 49 lần hỏa tai lớn, 7 lần thủy tai lớn, một lần gió bão lớn (phong tai), sau đó đất bị băng hoại. Sau khi "Hoại kiếp" kết thúc thì bắt đầu "Không kiếp", là kiếp không có vật gì tồn tại, kéo dài 20 tiểu kiếp nữa. Rồi một địa cầu mới lại dần dần hình thành. Một giai đoạn "Thành" khác lại bắt đầu. Như vậy, bốn giai đoạn "thành, trụ, hoại, không" của trái đất là bốn trung kiếp, gọi là thành kiếp, trụ kiếp, hoại kiếp, không kiếp.

Cấp thứ ba là kiếp lớn. Bốn trung kiếp gộp lại thành một đại kiếp. Nói cách khác, một lần sinh diệt của địa cầu là một đại kiếp (kiếp lớn). Thế nhưng, trong giai đoạn hoại kiếp, mỗi lần xảy ra hỏa tai lớn, thì thiêu cháy từ địa ngục vô gián đến cõi trời sơ thiền của sắc giới. Mỗi lần xảy ra thủy tai lớn, nước tràn ngập từ địa ngụcvô gián đến cõi trời nhị thiền của sắc giới. Và cuối cùng, một trận bão lớn, gió thổi mạnh suốt từ địa ngục vô gián đến cõi trời tam thiền của Sắc giới. Có thể nói, trong một đại kiếp, vào giai đoạn hoại kiếp, cả thế giới này từ địa ngục vô gián cho tới cõi trời tam thiền của sắc giới, đều nằm trong phạm vi ảnh hưởng của kiếp nạn, hỏa, thủy và phong tai. Chỉ có cõi trời thiền thứ 4 của sắc giới và 4 cõi trời thiền của Vô sắc giới mới tránh khỏi được kiếp nạn. Thế nhưng, có điều may là đến giai đoạn hoại kiếp, các chúng sinh ở thế giới này đều là chuyển sinh sang các thế giới khác, hoặc là siêu thăng lên cõi trời thiền thứ 4 của Sắc giới. Có thể nói, không có chúng sinh nào là không có nơi an thân.

Sách Phật nói kiếp, nếu không nói rõ thì thường chỉ cho đại kiếp. Trong chúng sinh ở ba giới này, dục giới, sắc giới và vô sắc giới, thọ mệnh chúng sinh ngắn nhất là sinh ra chết liền. Thọ mệnh chúng sinh dài nhất là ở 4 cõi Trời thiền của vô sắc giới. Thọ mệnh dài nhất là ở cõi trời hữu tưởng vô tưởng, tám vạn 4 nghìn đại kiếp ! Thọ mệnh của họ bằng 8 vạn 4 nghìn lần sinh diệt của trái đất này, vì vậy có chúng sinh ở cõi Trời này nhằm tự cho mình là bất tử. Kỳ thực, qua 8 vạn 4 nghìn đại kiếp, chúng sinh ở cõi Trời đó vẫn trở lại vòng sống chết luân hồi. Với con mắt của Phật, chỉ 8 vạn 4 nghìn đại kiếp cũng chỉ như khoảnh khắc một sát na mà thôi. Chỉ có tu đạo giải thoát, phá ngã chấp, mới vào được cảnh giới Niết Bàn bất tử. Và tiến thêm một bước nữa, phá cả pháp chấp, thì trở thành Bồ Tát, bậc Thánh tuy đã thoát sinh tử nhưng vẫn không trụ ở Niết Bàn, tùy theo loại mà hóa độ chúng sinh, và tiến dần tới quả Phật.

Có thể có người hỏi : "Trái đất này còn tồn tại bao lâu nữa ?"

ví dụ : Giả sử ở giai đoạn trụ của quả địa cầu này thọ mệnh trung bình là 100 năm, và nếu thọ mệnh trung bình của con người nay chỉ còn 45 tuổi. Chúng ta biết, một trụ kiếp gồm có 20 tiểu kiếp, như vậy hiện nay, địa cầu đang ở thời kỳ giảm kiếp của tiểu kiếp thứ 9. Như vậy, mọi người chúng ta hãy an tâm mà sống. Đừng có nghe tuyên truyền "Ngày tận thế đến rồi" mà sinh lo lắng ! Bất quá, trong mọi tiểu kiếp, khi giảm kiếp giảm tới mức 10 tuổi thọ mệnh thì cũng có các nạn như bệnh dịch, đói kém, giặc giã xảy ra, đấy là do trong thời kỳ giảm kiếp, nhân tâm suy đồi, loài người tự làm tự chịu quả báo mà thôi. Nhưng các kiếp nạn trong mỗi lần kiếp giảm đều có tính tạm thời và cục bộ, loài người tuy bị thiệt hại và chết nhiều, nhưng không đến nỗi bị tiêu diệt. Ngược lại, có tin mừng báo cáo cho mọi người biết, tức trong hơn 10 tiểu kiếp còn lại, sẽ có 996 vị Phật sẽ ra đời lần lượt trên địa cầu này, và vị Phật đầu tiên trong số này sẽ xuất hiện chính là Phật Di Lặc; vì vậy mà Phật giáo gọi "Di Lặc là Di Lặc tôn Phật hạ sinh". Sự kiện đức Di Lặc thành Phật trên địa cầu này diễn ra trong giai đoạn tăng kiếp của tiểu kiếp thứ 10, lúc thọ mệnh trung bình của loài người đạt 8 vạn tuổi, đại khái cách xa hiện nay đến 56 ức năm [ức bằng 10.000.000 năm (10 triệu), 56 ức năm là 560 triệu năm] (chú 8). Các chuyện thọ mệnh người tăng và giảm, và có lúc tăng tới 8 vạn 4 nghìn tuổi, chúng ta không ngại gì mà không tin là sự thật, vì các kinh Đại và Tiểu thừa đều có chép. Trong kinh Phật có ghi "Khi thọ mệnh người giảm đến 10 tuổi, thì phụ nữ mới sinh được 5 tháng đã đi lấy chồng. Lúc ấy trong thế gian, không còn có các thức ăn có vị ngọt như dầu bơ, đường trắng, mật". Lại có chép : "Khi thọ mệnh người đạt 8 vạn tuổi thì phụ nữ 500 tuổi mới lấy chồng. Lúc bấy giờ, đất đai trên địa cầu bằng phẳng, không có gò đống, hang hố, gai góc, cũng không có rắn rết, ruồi muỗi, côn trùng độc; gạch, ngói, đá đều biến thành ngọc lưu ly; nhân dân giàu có thóc gạo giá rẻ, hạnh phúc cùng cực".

(Theo Trường A Hàm, quyển 6-Ngô Lê Lợi st và trích đăng).